Nước ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và miền núi với khoảng 20% số hộ ở mức nghèo đói. Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều vấn đề môi trường có tính chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã và đang trở thành, bức xúc.
Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến các hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn. Nó hạn chế tính năng sản xuất của các thành phần môi trường, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, cản trở sự phát triển bền vững. Càng ngày, những vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên phổ biến rộng rãi, len lỏi trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt thường nhật của người dân nông thôn. Và quan trọng nhất, hiện trạng trên tác động xấu đến sức khoẻ cộng đồng nông thôn và hậu quả là lâu dài, không những đối với thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau.

Cây đa bến nước sân đình, ao sen gốc gạo đầu thôn, là mô-típ của hầu hết những cái làng Việt Nam. Những hình ảnh này sẽ còn theo riết tất cả chúng ta, ngay cả khi mà làng quê bị bê tông hóa hòan tòan, ao làng bị lấp và cổ thụ bị chặt. Đó là một nỗi đau mà không chỉ chúng ta, nhiều thế hệ sau còn phải gánh chịu. Ảnh Lãng Quân
1. Kinh hoàng ô nhiễm môi trường nông thôn Việt Nam
Vấn đề đầu tiên phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn.
Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước sạch như đã được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn, nhất là khu vực miền núi còn rất thấp. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng số liệu sau:
Bảng tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
|
TT |
Vùng |
Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch (%) |
|
1 |
Vùng núi phía Bắc |
15 |
|
2 |
Trung du Bắc Bộ & Tây Nguyên |
18 |
|
3 |
Bắc Trung Bộ & Duyên hải miền Trung |
35-36 |
|
4 |
Đông Nam Bộ |
21 |
|
5 |
Đồng bằng Sông Hồng |
33 |
|
6 |
Đồng bằng Sông Cửu Long |
39 |
Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân số được cấp nước sạch.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán…Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển gây tử vong nhất là ở trẻ em. Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, VSMT kém . Có thể thấy, nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:
Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có kiểm soát.
Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức trung bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 80 – 90 kg/ha (cho lúa là 150 – 180kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430kg/ha, Hàn Quốc – 467kg/ha, Trung Quốc – 390 kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến MT nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N – P – K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là những áp lực chính cho nông dân và môi trường đất.
Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân bắc, phân chuồng tươi vào canh tác. Ở ĐBSCL, phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Thuốc bảo vệ thực vạt (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc đối với mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước gây ra ô nhiễm; Tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất, nước.
Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được nguyên liệu thuốc BVTV mà phải nhập khẩu để gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói nhỏ tại các nhà máy trong nước.
Đặc biệt ở rau xanh, sâu bệnh có thể làm tổn thất trung bình từ 10 – 40% sản lượng nên đầu tư cho thuốc BVTV sẽ mang lại lợi nhuận trên 5 lần. Chính vì vậy, lượng thuốc BVTV sử dụng cho rau thường quá mức cho phép. Điều này dẫn đến ô nhiễm đất, nước. Từ môi trường đất, nước và nông sản, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào cơ thể con người và tích tụ lâu dài gây các bệnh như ung thư, tổn thương về di truyền. Trẻ em nhạy cảm với thuốc BVTV cao hơn người lớn gấp 10 lần. Đặc biệt thuốc BVTV làm cho trẻ thiếu ôxi trong máu, suy dinh dưỡng, giảm chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết.
Điều đáng quan tâm là tình hình ngộ độc thực phẩm do các hoá chất độc, trong đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng không chỉ riêng ở nông thôn mà còn cả ở các thành phố lớn có sử dụng nông sản có nguồn gốc từ nông thôn.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Hàng năm khoảng 10% khối lượng thuốc được nhập lậu theo đường tiểu ngạch. Số này rất đa dạng về chủng loại, chất lượng không đảm bảo và vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ hai là việc sử dụng còn tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV tồn đọng tại các kho thuốc cũ, hết niên hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên cả nước. Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Và cuối cùng là việc bảo quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.

Trên QL32, nông thôn Hà Tây. Rác rưởi tràn ra đường, ven quốc lộ, đến công nhân vệ sinh môi trường cũng góp phần xả rác ra mặt đường nhựa. Rồi họ hót, họ xúc, rác bắn lên ô tô xe máy đi qua bãi rác đó. Rác và hóa chất sẽ giết chết không gian xanh và yên bình của nông thôn VN. – Ảnh Lãng Quân.
Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu vực đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề các loại, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây, Thái Bình và Bắc Ninh,… Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do đó, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khoẻ của dân làng nghề. Kết quả phân tích chất lượng nước thải một số làng nghề dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu phân tích đều vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt BOD5, COD đều vượt tiêu chuẩn từ 2 – 5 lần.
Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than. Do đó, lượng bụi và các khí CO; CO2; SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất trong nhiều làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng nghề sản xuất gạch đỏ (Khai Thái – Hà Tây); vôi (Xuân Quan – Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6.000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò; 250 tấn bùn; 10m3 đá sinh ra nhiều loại bụi, SO2; CO2, CO; NOx, và nhiều loại chất thải nguy hại khác, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng tới hoa màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc Ninh và Hưng Yên…
Ô nhiễm môi trường đất chủ yếu tập trung ở các làng nghề tái chế kim loại. Kết quả nghiên cứu của Đề tài KC.08.06 cho thấy, một số mẫu đất ở làng nghề tái chế chì thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, Hưng Yên cho thấy, hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 – 69,68 ppm; hàm lượng Pb2+ từ 147,06 – 661,2 ppm . Hàm lượng các kim loại nặng trong nước cũng rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.
Bên cạnh đó có khoảng 3.600 chợ nông thôn, trung bình mỗi người mỗi ngày thải ra 0,4 – 0,5 kg chất thải. Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến nên mới thu gom được khoảng 30% chuyên chở về những nơi tập trung rác. Bãi rác tại các huyện, các chợ nông thôn chưa có cơ quan quản lý và biện pháp xử lý. Chủ yếu là tập trung để phân huỷ tự nhiên và gây nên những gánh nặng cho công tác bảo vệ môi trường.
Bảng biểu tình hình phát sinh chất thải rắn:
|
Các loại chất thải rắn |
Toàn quốc |
Đô thị |
Nông thôn |
|
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt (tấn/năm) |
12.800.000 |
6.400.000 |
6.400.00 |
|
Chất thải nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm) |
128.400 |
125.000 |
2.400 |
|
Chất thải không nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm) |
2.510.000 |
1.740.000 |
770.000 |
|
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm) |
21.000 |
- |
- |
|
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) |
- |
71 |
20 |
|
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình theo đầu người (kg/người/ngày) |
- |
0,8 |
0,3 |
(Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 – Chất thải rắn)
Thời gian gần đây, vùng nông thôn Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ ngồn rác, nước và khí thải xả ra từ các khu công nghiệp trên cả nước. Chính nguồn rác, nước và khí thải này cũng đang phá hủy nghiêm trọng sự trong lành của môi trường nông thôn Việt Nam.
2. Cứu môi trường nông thôn: Bất lực ?

Sông quê nhỏ bé, bờ đê cỏ rả. Đó là khúc đồng dao vô giá của hầu hết người Việt Nam. Khi môi trường bị xâm hại, làng quê như một công xưởng mà chúng ta sẽ biến thành như rô-bốt – thì điều gì sẽ xảy ra? Ảnh: Lãng Quân
Chúng ta đang phải chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của ô nhiễm môi trường tới không chỉ cảnh quan nông thôn Việt Nam mà còn đối với sức khỏe của chính những người dân. Hãy nhìn những làng quê đang bóc đi cái vẻ hồn hậu, chất phác vốn có để khoác lên mình tấm áo kệch cỡm của một tên trọc phú. Và bên trong cái vẻ béo tốt giả tạo ấy chính là sự kiệt quệ của những vùng quê đang bị bóc lột, bòn rút đến những giọt máu cuối cùng. Hậu quả của nó thì đã nhỡn tiền: Ô nhiễm đổ lên những cánh đồng, những dòng sông quê còn bệnh tật đang đổ lên đầu những người dân nông thôn. Còn họ, những người nông dân thì chỉ biết đứng nhìn.
Tài nguyên đất ở các vùng nông thôn vẫn đang tiếp tục bị suy thoái trầm trọng, làm biến đổi các tính chất đất và không còn tính năng sản xuất. Các loại hình thoái hoá đất chủ đạo ở nước ta là: Xói mòn, rửa trôi, sạt và trượt lở đất; suy thoái vật lý (mất cấu trúc, đất bị chặt, bí, thấm nước kém); suy thoái hoá học (mặn hoá, chua hoá, phèn hoá); mất chất dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ; đất bị chua; xuất hiện nhiều độc tố hại cây trồng như Fe3+, Al3+ và Mn2+; hoang mạc hoá; ô nhiễm đất cục bộ do chất độc hóa học, khu công nghiệp và làng nghề; suy thoái và ô nhiễm đất ở khu khai thác mỏ.
Nguồn tài nguyên nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hàng loạt những dòng sông quê kêu cứu vì mức độ ô nhiễm đã gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép. Những nguồn nước ngầm cung cấp cho người dân nhiễm sắt, nhiễm chì, nhiễm phèn, nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và vô vàn loại chất độc hóa học do các khu công nghiệp, các làng nghề thải ra vào lòng đất. Ở những dòng sông, những ao hồ ở các vùng quê, những loài vật thủy sinh như tôm, cua, cá, ốc ếch và thậm chí ngay một loài sống dai như đỉa thì đến bây giờ, chỉ còn thấy lại trong kí ức của những già ở các vùng thôn quê.
Trên khắp các vùng nông thôn mọc lên những làng ung thư, làng bệnh tật. Những thứ bệnh “nan y” vốn dĩ chỉ có những người lười vận động, phải chịu nhiều chất độc hại mà thường chỉ ở các thành phố mới mắc phải thì nay trút xuống vai những người nông dân nhọc nhằn, nghèo khó. Không hiếm những người nông dân phải bán cả gia sản để về thành phố chữa chạy và cũng không ít những người khác phải ngậm ngùi chờ chết vì không có tiền để chống lại những căn bệnh tử thần.
Đã nhiều năm nay, báo chí nói nhiều đến việc ô nhiễm môi trường ở nông thôn, những hiểm họa từ ô nhiễm môi trường mà những người nông dân đang phải gánh chịu nhưng thực tế, không ai làm gì để giải quyết tình trạng đó. Chúng không giảm đi, mà càng ngày càng tăng lên với mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều lần.
Chúng ta hãy tự hỏi, chúng ta đang bất lực trước những hiện trạng này hay chúng ta thờ ơ đứng nhìn nó. Chúng ta phảỉ làm gì khi nghĩ về những người nông dân, hơn 70% dân số của chúng ta đang phải đối mặt?.
GS. TS. Lê Văn Khoa, PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội)
| Người tiểu đường không nhất thiết phải kiêng đồ ngọt |
|
Ngày nay, có nhiều thực phẩm chế biến sẵn, trên bảng thành phần thường ghi tổng số carbohydrate theo gram. Với người ĐTĐ, khi ăn các loại thực phẩm này cần phải tính đến khối lượng chất carbonhydrate vì lượng tiêu thụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức đường máu. Vậy carbonhydrate là gì? Ảnh hưởng của chúng lên sức khoẻ ra sao? Người ta chia carbonhydrate thành 3 loại: chất bột, đường và sợi xơ. Chất bột Thực phẩm giàu chất bột bao gồm: -Đậu Hà lan; ngô; đậu lima; khoai tây; khoai môn; khoai sọ; khoai lang... -Các loại đậu đỗ. -Gạo; yến mạch; lúa mạch; bột mỳ; bánh mỳ; miến dong; bún; bánh phở... Loại chất bột dạng hạt như gạo chẳng hạn, bao gồm 3 phần: cám, mầm hạt và phần lõi có nhiều tinh bột. Phần vỏ cám ở bên ngoài có chứa nhiều sợi xơ và vitamin nhóm B (Vitamin B1; B2...). Phần mầm hạt có nhiều dưỡng chất chủ yếu là các acid béo và vitamin E. Chính vì vậy khi ăn gạo lức nhiều người thấy đường máu tăng ít hơn (tác dụng giảm đường máu của chất xơ) và cảm thấy khoẻ hơn (vai trò của các vitamin và acid béo). Hạt gạo khi đã tinh chế (như bún chẳng hạn) bị loại bỏ phần xơ và vitamin nên không còn nhiều dưỡng chất bằng hạt gạo xay giã dối (cơm gạo lức). Một nguyên tắc chung cần nhớ rằng: “thực phẩm càng tinh chế thì càng nghèo dưỡng chất”. Các chuyên gia khuyến cáo nên ăn ngũ cốc toàn phần sẽ có lợi hơn cho sức khoẻ vì còn đủ vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên gạo lức thì không mềm cơm và khá khó ăn đối với hầu hết mọi người, do đó cần dung hoà với mọi thành viên khác của gia đình. Đường Đường cũng chính là một dạng khác của carbonhydrate, thường được quy là hấp thu nhanh vào máu. Có 2 loại đường chính: -Đường tự nhiên trong sữa, quả chín. -Đường được thêm vào khi chế biến như các loại xi-rô, trong bánh, kẹo, mứt…. Trên nhãn hàng thường ghi tổng số gram đường (cả lượng tự nhiên và thêm vào). Chất đường cũng có mặt ở nhiều loại sản phẩm với các tên gọi khác nhau. Ví dụ: đường kính; đường nâu; mật mía; mật ong; củ cải đường; xi-rô... Trên bao bì sản phẩm đường (sugar) được ghi nhiều tên khác nhau tuỳ thuộc nguồn gốc. Ví dụ: đường kính có tên là sucrose; đường từ quả chín thường được viết fructose; đường từ sữa viết lactose. Hoặc các chữ như: dextrose; levulose; maltose cũng có nghĩa là đường. Các sản phẩm nhập khẩu và kể cả một số sản phẩm được sản xuất trong nước thường dùng các chữ như vậy để thông báo lượng chất đường có trong sản phẩm, khi mua và ăn chúng phải biết rõ mình sẽ ăn bao nhiêu đường (phải học thôi nếu muốn làm người bệnh thông thái!). Bệnh nhân ĐTĐ có được phép ăn đường không? Trước đây, bệnh nhân ĐTĐ thường được cảnh báo hoàn toàn tránh ăn đường. Các bác sỹ nghĩ rằng ăn đường sẽ hấp thu nhanh và làm tăng đường máu nhanh. Một số người còn nghĩ rằng ăn đường gây ra bệnh ĐTĐ. Giờ đây, những suy nghĩ như vậy không còn đúng nữa. ‘Ăn khoai tây luộc còn làm tăng đường máu nhiều hơn so với ăn đường kính khi dùng cùng một số calo như nhau. Điều tương tự cũng xảy ra với việc ăn cơm và bột mỳ trắng’. Về công thức hóa học mà nói, khi ăn đường từ quả chín, sữa sẽ có ít đường glucose hơn so với ăn cơm, khoai sọ hoặc miến dong. Đường kính là loại đường đôi, được kết hợp bởi 1 phân tử đường glucose và 1 phân tử đường fructose. Đường sữa cũng là loại đường nối đôi gồm 1 phân tử đường glucose và 1 phân tử đường galactose. 75% đường trong quả chín là đường fructose và glucose. Do vậy dù ăn chất ngọt từ đường kính, đường sữa hay từ quả ngọt, ta cũng chỉ có một nửa lượng đường trực tiếp là đường glucose. Trong khi tinh bột (cơm, mỳ, khoai, ngô, sắn..) khi tiêu hóa xong chúng ta có 100% là đường glucose, vì tinh bột thực chất là các phân tử đường glucose nối với nhau. Tốc độ tiêu hóa tinh bột khi ăn riêng rẽ nhanh hơn ta nghĩ nhiều. Hãy nhớ lại rằng nếu ta nhai cơm hơi lâu một chút trong miệng, men tiêu hóa của nước bọt -dù khá yếu- cũng đủ chuyển đổi tinh bột thành đường, thế nên ta cảm thấy ngọt ngay khi cơm còn trong miệng. Những nghiên cứu chỉ ra rằng: tổng số lượng carbonhydrate tác động nhiều nhất lên mức đường trong máu. Tuy nhiên loại carbonhydrate và cách chế biến thức ăn, thức ăn kèm theo cũng ảnh hưởng trực tiếp lên mức độ gia tăng đường máu. Ăm cơm rang với dầu ăn và thịt chắc chắn làm tăng đường máu sau ăn ít hơn ăn cơm không. Ngày nay, các chuyên gia đồng ý rằng bệnh nhân ĐTĐ có thể ăn đường trong bữa ăn và được tính đến khối lượng các chất carbonhydrate. Ví dụ: nếu muốn ăn thêm 10gram mật ong chẳng hạn, hãy bớt đi lượng đường trong quả ngọt (1 quả chuối nhỏ) hoặc cơm tương ứng (1/3 bát cơm). Bệnh nhân ĐTĐ có thể được thưởng thức vị ngọt ngào của đồ ăn thức uống. Tuy nhiên cũng cần nói rằng không nên lạm dụng ăn nhiều đường vì đường không phải là thực phẩm có nhiều chất bổ dưỡng, chúng cung cấp năng lượng nhưng thiếu đi vitamin, khoáng chất và chất xơ. Hơn nữa, thực phẩm có nhiều đường thường đi kèm theo nhiều calo và chất béo (như bánh ga-tô chẳng hạn). Hãy tưởng tượng một bát nước dùng chấm nem cho 4 người ăn thường có 10gram đường (2 thìa cafe), nếu ăn hết toàn bộ số nước dùng đó, mỗi người cũng chỉ đưa vào 2,5gram đường=1 thìa cơm. Có đáng phải hy sinh vị ngọt với một chút đường như thế? Một người nặng 50kg, một ngày cần khoảng 150-200g chất bột- đường. Lượng đường từ quả ngọt nên ăn từ 15-30g/ngày (2 quả chuối chẳng hạn). Ths, Bs Nguyễn Huy Cường. |
Tổ chức Y tế thể giới (WTO) năm 2003 đã chỉ rõ: mỗi năm có hơn 2 triệu người chết vì bệnh tim, bệnh tiểu đường do ngồi lâu gây ra.Vậy nên, vì sức khoẻ, không nên “ngồi chờ chết”.

Tư thế ngồi góp phần giảm thiểu các bệnh do ngồi mà ra
Bệnh xương cổ
Nguyên nhân: Nguồn gốc của bệnh xương cổ là sau khi sụn đệm cột sống thoái hoá, chèn ép rễ dây thần kinh, tuỷ sống hoặc động mạch cột sống từ đó gây ra các loại bệnh.
Tư thế ngồi không đúng hoặc ngồi lâu trước máy tính trong một thời gian dài sẽ dễ gây ra mệt mỏi cho cơ gáy sau cổ, gây nên đau nhức ở cổ và vai, chuột rút ở cơ gáy, thậm chí xuất hiện đầu đau hoa mắt. Kéo dài như vậy, tới lúc trung niên tất yếu sẽ dẫn đến sụn đệm cột sống thoái hoá, gây nên bệnh xương cổ.
Đối sách: Khi sử dụng máy tính cần giữ tư thế ngồi đúng, khi ngồi hai chân chạm đất, đôi chân cần sử dụng vững chắc để điều tiết bàn làm việc, ghế và cả đệm chận.
Nếu dùng đệm chân thì nên đảm bảo đủ độ rộng rãi để cho chân có thể hoạt động tự do trong phạm vi bàn làm việc. Nên thường xuyên dạng chân và thay đổi tư thế chân.
Cần thường xuyên đứng lên “cách ly” khỏi bàn làm việc đi đi lại lại hoặc thường xuyên thay đổi vị trí của chân để cho cả cơ thể người được thư giãn.
Không nên để hộp, thùng hay đồ vật khác ở dưới bàn vì như thế sẽ hạn chế không gian hoạt động của chân.
Gợi ý: Bài tập Yoga cho xương cổ rất thích hợp với người hay ngồi “ôm” máy tính.
Bệnh xương sống thắt lưng
Nguyên nhân: Do ngồi lâu, hoặc ngồi ở tư thế không đúng, hoặc chỉ ngồi cố định ở một tư thế mà làm cho các tế bào mô mềm của phần lưng ở trong trạng thái chịu áp lực cao, trong thời gian kéo dài khiến tế bào mô mềm thiếu máu, từ đó gây ra cơ lưng mệt mỏi, tổn thương.
Đối sách: Cần giảm bớt thời gian ngồi, hoặc ngồi một lúc thì nên thay đổi tư thế, đứng dậy vận động một chút, cũng có thể làm mát xa cho vùng lưng trong giờ nghỉ giải lao.
Gợi ý: tập 4 chiêu thức Yoga để điều chỉnh vùng lưng, eo và còn có thể làm đẹp “núi đôi”.
Xương cùng bị tổn thương
Nguyên nhân: Nếu cảm thấy xương cùng phần mông đau nhức từng cơn, có lúc liên tục 2-3 ngày làm bạn ngồi không yên thì đó là một biểu hiện của tổn thương xương cùng.
Triệu chứng đau xương cùng bao gồm xung quanh xương cùng, vùng mông có hiện tượng nhấn vào đau và đau chân, phạm vi bao gồm xương cùng, cơ mông và tế bào mô mềm xung quanh. Thường xuyên ngồi lâu trong tư thế không đúng, chèn ép thần kinh xương cùng thì sẽ gây ra tổn thương và đau nhức cho xương cùng.
Đối sách: Hàng ngày cần giữ tư thế ngồi đúng, giảm nhẹ áp lực cho xương cột sống, vận động nhiều.
Những người bị đau xương cùng mãn tính, điều quan trọng nhất là cần phải hạn chế giảm bớt hoặc tránh cho chỗ đau không phải hứng chịu áp lực.Thông thường khi ngồi có thể kê một chiếc đệm tròn trên ghế, giảm nhẹ áp lực ở chỗ đau. Dáng ngồi thẳng có thể phân tán áp lực phần mông và xương sống,làm cho người bị đau có thể ngồi lâu hơn được một chút.
Khi ở nhà, cần thường xuyên lấy túi nóng chườm vào chỗ đau hoặc trị liệu theo đông y sẽ có hiệu quả tốt hơn.
Gợi ý: tập các bài tập làm cơ thể mềm mại.
Mông mọc “mụn”
Nguyên nhân: Mông “mọc mụn” có nghĩa là phần mông mọc lên những nốt mụn đỏ đau nhức.
Thì ra xương ở phần mông cơ thể người là do xương chậu cấu thành, trong đó xương vòng là một tổ hợp quan trọng cấu thành nên xương chậu, xương ngồi phân làm hai nhánh trên dưới, hai nhánh xương sẽ khớp nối tạo thành nút xương ngồi. Khi cơ thể chúng ta ở tư thế ngồi, nút xương ngồi vừa vặn tiếp xúc với mặt ghế, Thời gian dài ngồi mải mê làm việc hoặc ngồi khoanh chân lâu dễ làm cho khớp xương ngồi “xung đột” với ghế ngồi. Hơn nữa trong thời gian dài chịu tải trọng nặng, thương tích bị cọ xát, chèn ép không hợp lý sẽ dẫn đến viêm mụn mủ do bị thương, loại mụn này đa phần phát sinh ở trên một mặt xương ngồi, điều này có thể có liên quan đến việc ngồi ở tư thế không cân bằng.
Đối sách: Cải thiện nơi ngồi. Bình thường nếu có thói quen ngồi ghế gỗ, ghế cứng nên thay đổi ngồi ghế dạng mềm hoặc sofa, hoặc đặt tấm lót ghế bằng bông hoặc tấm lót bằng vải trên ghế cứng để có thể làm giảm sụ cọ xát và “sự đối chọi” giữa vật cứng và khớp xương ngồi.
Gợi ý: Tập các bài tập thể dục nhẹ nhàng mềm mại.
Cơ bắp đau nhức
Nguyên nhân: Hàng ngàn vạn tế bào trong cơ thể cần dựa vào sự lưu thông của máu để hoàn thành các chức năng trao đổi chất cũ mới. Ngồi lâu có thể làm cho lượng máu kèm theo khí ô xy trong cơ thể giảm đi, phân áp khí ô xy giảm thấp, lượng máu cac-bon đi-ô-xit tăng, phân áp cac-bon đi-ô xit tăng cao, gây ra cơ bắp đau nhức, cứng đờ, mất linh hoạt và suy thoái nhanh.
Đối sách: Chuyên gia y học kiến nghị, những người do tính chất công việc cần phải ngồi lâu, không nên ngồi liền tù tì mấy tiếng đồng hồ, tốt nhất là cách 2 tiếng nên đứng dậy hoạt động tầm 10 phút, có thể đi dạo hoặc tập một số bài thể dục nào đó.
Gợi ý: 8 chiêu thức trong bài tập thể dục giảm nhẹ áp lực
Ăn uống không ngon
Nguyên nhân: Ngồi lâu toàn thân thiếu vận động sẽ làm cho nhu động dạ dày yếu đi, dịch tiêu hoá bài tiết giảm đi, lâu ngày sẽ xuất hiện chứng chán ăn, ăn uống không ngon, tiêu hoá không tốt và thậm chí cả chướng bụng, đầy bụng...
Những người phải ngồi lâu bên bàn làm việc không vận động, thức ăn dung nạp vào cơ thể hàng ngày đều tích tụ ở dạ dày đường ruột, làm cho dạ dày đường ruột “nặng gánh”, thời gian dài căng thẳng , nhu động cũng không đuợc “nghỉ ngơi”, từ đó có thể gây ra các chứng mãn tính khó chữa cho dạ dày và 12 đốt đường ruột như viêm loét, thủng lỗ, và chảy máu...
Đối sách: Tập hình thành nên thói quen ăn chủ yếu là các loài thực vật. Nên ăn nhiều các loại thực phẩm như đậu và các chế phẩm từ đậu, tảo biển, các loại thân rễ, củ, rau xanh và hoa quả. Những thực phẩm hàm chứa chất xơ phong phú có thể đẩy mạnh nhu động đường ruột, rút ngắn thời gian thức ăn đi qua dạ dày đường ruột, làm cho cơ hôi gây nên niêm mạc đường ruột từ các chất có hại trong thức ăn giảm đi, giúp đẩy những chất có hại ra ngoài, giảm bớt độc hại.
Dương Hằng
Theo h863












