Viết Về Đại Lộc

Quê hương Đại Lộc
By: 
Tan Van

Con tằm Đại Lộc xe tơ...

TTQNCâu ca xưa ghi dấu bóng hình thương yêu: cây dâu và con tằm Đại Lộc. Đó là nơi mà một nhà thơ từng mô tả: "Người ơi Giao Thủy đôi dòng nước/ Gặp gỡ nhau chi để ngại ngùng…". Giao Thủy, nơi gặp gỡ của dòng Thu Bồn và Vu Gia, là nôi tằm tơ của Đại Lộc.

Nhờ phù sa sông mẹ bồi đắp, những ruộng dâu ven sông trở nên bạt ngàn xanh ngút tầm mắt. Nghề trồng dâu, nuôi tằm từng phát đạt, từng có Xí nghiệp Ươm tơ Giao Thủy vang danh một thời.

Thời ấy, mọi chuyện "phải không", mua sắm, ăn học... của nhiều gia đình ở Đại Lộc, chủ yếu dựa vào con tằm. Con tằm đem lại nguồn thu nhập chính, "Làm ruộng ba năm không bằng nuôi tằm một lứa".


Tuy nhiên, nuôi tằm cũng vất vả trăm bề "Làm ruộng ăn cơm nằm/Nuôi tằm ăn cơm đứng". Vất vả là bởi, tằm không thể nhịn đói được lâu mà phải ăn liên tục, cứ 3 - 4 giờ, bất kể ngày đêm, khuya sớm, phải cho tằm ăn một lần. Làm ruộng, trời mưa hay mệt mỏi có thể không ra đồng đôi bữa cũng chẳng sao, nhưng nuôi tằm phải đội mưa đội gió hái dâu. Chưa hết, dâu ướt phải nai lưng ra quạt (hồi ấy chưa có quạt máy như bây giờ), vì tằm ăn dâu ướt là sinh bệnh ngay.

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu 90 của thế kỷ trước, trừ khi dâu mới trồng chưa có lá, còn thì nuôi tằm hầu như quanh năm. Lứa tằm này chưa chín đã bắt đầu "phen" lứa khác. Đại gia đình, từ trẻ đến già, đều tham gia vào công việc này như một dây chuyền công nghiệp: người hái dâu, người cho tằm ăn, người trông bủa tằm, bắt kén. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Nhiệm vụ của bọn trẻ con là bắt tằm chín cho lên bủa và giữ bủa, canh chừng ruồi bu, kiến đậu. Làm riết rồi đâm ghiền và… thương con tằm lúc nào chẳng biết.

Tằm là con vật sạch sẽ và hiền lành nhất thế gian, hễ dâu kém sạch một chút hay môi trường chung quanh mất vệ sinh là đổ bệnh. Mỗi ngày phải thay phân cho tằm một lần, nếu không tằm cũng không thể "sống chung với phân" - dù đó là phân của mình - quá một ngày được. Nó chẳng bao giờ gây hấn với bất cứ con vật nào. Nó sinh ra chỉ để làm kén, nhả tơ, lặng lẽ...

Nhờ nuôi tằm mà cha mẹ tôi và hàng nghìn gia đình khác cải thiện được kinh tế gia đình, có tiền cho con ăn học. Sau đó, vì chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cây dâu dần vắng bóng trên đồng ruộng. Số người nuôi tằm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, Xí nghiệp Ươm tơ Giao Thủy cũng giải thể. Để rồi, mỗi lần về ngang qua chỗ xí nghiệp đứng chân trước đây, không người dân nào của Đại An, Đại Hòa không nhớ đến tiếng thoi rộn rã một thời, và cảm thấy lòng bứt rứt như thiếu vắng điều gì. Những chiếc nong nuôi tằm trước kia nay nằm chỏng chơ.Đũi tằm cũng xếp xó.

Đồng đất Đại An, Đại Hòa trước kia nổi tiếng với những "bãi dâu lờ mờ bên sông", bây giờ cũng có tiếng với vùng rau chuyên canh; mỗi héc ta cho thu nhập trên dưới 50 triệu đồng. Mặc dù Nhà nước có chủ trương khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm, ưu đãi cho những nông dân đi tiên phong trong việc này, nhưng người dân vẫn hờ hững, vì làm rau màu thu nhập cao hơn nhiều, lại ít tất bật hơn.

Hình ảnh cô thôn nữ nghiêng nghiêng vành nón lá, tay thoăn thoắt hái dâu, tay ươm tơ dệt lụa, đã thành dĩ vãng, có chăng chỉ còn trong những bài thơ, câu hát:
"Tay em hái lá dâu non
Tay em chăm nong tằm đỏ
Tay ươm tơ dệt lụa...".

Mặc tấm áo lụa tơ tằm mượt mát, hỏi mấy ai còn nhớ, con tằm đã phải rút ruột nhả tơ. Nhớ quá đi thôi tiếng rào rào của tằm ăn rỗi...

                                       PHAN LÊ CHÂU NỮ

 
 
THƯ VỀ ĐẠI LỘC... nổi niềm của người lữ thứ

Cảm nhận về một bài thơ hay

Trong những tháng ngày phiêu bạt nổi trôi nơi đất khách quê người . Nổi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ cũng canh cánh bên lòng của người lữ thứ tha hương . Nổi nhớ ấy càng dâng cao khi ta bắt gặp đâu đó trên nẽo đường xứ lạ hình bóng của quê hương như cây đa giếng nước con đò ... tên núi tên sông tên làng tên xã, một khuôn mặt gợi cho ta nhớ đến những hình bóng thân quên nơi cố quân. Và tôi cũng vậy mõi khi nhớ đến mãnh đất Đại lôc thân yêu của mình tôi lai lần tìm đến bài thơ " Thư Về Đại Lộc " của tác gia Hạ Đình Thao in trong tập thơ " Quảng Nam... chưa mưa đã thấm "

THƯ VỀ ĐẠI LỘC

Con ở phuơng xa nhớ về quê nội
Chắc mẹ buôn nhiều trong những đêm đông
Nghĩ đến tuổi già đời qua rất vội
Nghĩ đến thằng con lang bạt ruổi dong
**
***
Cũng muốn về thăm như từng mong đợi
Nhớ luỹ tre xanh, thương những con đường
Ngọt ngào à ơi ... khu nhà xóm núi
Nhịp chân vội vàn những sớm tinh sương
**
***
Nhưng về làm gì , ừ thôi - mẹ hiểu
Gần nữa đời con ,trên đường long đong
Gần nữa đời con ,chưa tròn manh chiếu
Như bây giờ ngôi chới với tay không
**
***
Con ngữa bàn tay tư bàn tương số
Đường đời thật dài , chắc sẽ sống lâu
Chắc sẽ qua mau , lẽ nao khổ mãi
Hạnh phúc đường này chắc sẽ đến mau
**
***
Con mong ngày vui trỡ về thật sớm
Để mẹ thôi buồn trong những đêm đông
Con vẫn hằng tin như ngày mới lớn
Nên còn miệt mài trên đường ruổi dong
Hạ Đinh Thao
Hoài Thanh tác giả nổi tiếng trong tập " Thi nhân Việt Nam " từng nói : "Thích một bài thơ hay thực chất là thích một con nguời đồng điệu " và " Một bài thơ hay là một cánh cữa đi sâu vào một tâm hồn " . Hay nói một cách khác muốn hiểu được thơ của nguời khác thì phải là tri âm của nhà thơ . Tôi không dám tự nhận mình là tri âm cảu nhà thơ . Tôi chỉ là một nguời con của Đại lộc xa quê và ôm trong mình một nổi nhớ khắc khoải về quê hương xứ sỡ . Trong suốt qua trình đi hoá giải cái nổi nhớ vô bờ đó tôi đã tìm và bắt gặp một tâm hồn đồng điệu . Đồng điệu với một thân phận , đồng điệu với nhưng vần thơ canh cánh của Hạ Đình Thao trong bài "Thư về Đại lộc "
Bài thơ đã đi vào lòng tôi như một sự đồng cảm ngọt ngào . Tôi đã thấy trong ấy dòng nước mắt nhớ quê nhớ mẹ của tác giả và cả những dòng nước mắt của tôi nhỏ xuống trang thơ khi nghi về quê hương
Một con người Đại lộc xa quê khi đọc dòng thơ của một xa quê như mình viết về quê mẹ thử hỏi làm sao không tìm thấy sự đồng điệu trong ấy
Cả một bài thơ dài tác giả không hề nhắc đến bất cứ câu nào về Đại lộc , ngoài trừ cái tiêu đề "Thư về Đại lộc " Bài thơ chỉ là một cánh thư của một đứa con trai trên bước đường lữ thứ gởi về cho mẹ hiền nơi quê hương . Nhưng nổi lòng và một lời tâm sự với mẹ về nổi niềm của một kẽ tha huơng , một thân phận long đong của một con người đang nổi trôi phiêu bạt . Đứa con nơi xa đang nhớ về mẹ muốm trỡ về với mẹ trong những đêm đông để mẹ không con ra ngõ ngóng trong người con ngoài sương gió .Nhưng than ôi bước đường nổi trôi vẫn còn dong ruổi trên những miền xa mù mịt , cũng muốn trỡ về thăm mẹ trong một ngày vui , nhưng xin mẹ thứ lổi đường công danh sự nghiệp của con vẫn còn quá mịt mờ. Còn chỉ có một gói tâm tình trong cánh thư nhỏ gởi về với mẹ....
Con ở phuơng xa nhơ về quê nội
Chắc mẹ buôn nhiều trong nhưng đêm đông
Nghĩ đến tuổi già đời qua rất vội
Nghĩ đến thăng con lang bạt ruổi dong
Cũng muốn về thăm như tưng mong đợi
Nhớ luỹ tre xanh thương những con đường
Ngot ngào à ơi ... khu nhà xóm núi
Nhịp chân vội vàn những sớm tinh sương...

Chỉ có bấy nhiêu thôi , nhưng nguời xưa nói thơ là " Ý tại ngôn ngoại " Nghĩa là ý ở ngoài những câu thơ . Cả một bài thơ tôi không thấy nhưng tên làng tên xã tên sông tên núi quê mình , nhưng tôi biêt Hạ Đình Thao đã gởi cả lòng mình trên trang thơ về Đại lộc thân yêu của tôi ... và tôi đã tìm thấy trong ấy hình bóng của quê mình
Bỡi nấp sau mõi câu chữ của anh tôi vẫn thấy đâu đó bên hiên vắng người mẹ già lưng còng tóc bạc đang dõi mắt trong con .Lấp lánh sau từng dòng thơ là hinh ảnh hai con sông Vu gia và Thu bồn đang uốn mình mang những dòng phù sa như sữa nmẹ bồi đắp cho làng quê yêu dấu . Hai con sông hẹn hò nhau về một nơi để hợp thành Giao Thuỷ truớc khi hoà mình vào Cữa Đại Cữa Hàn . Tôi thấy trong thơ anh có cánh đông lúa chín vàng trãi dài trên cánh đồng Đại hiệp thấp thoáng nhưng cánh cò trắng bay trong chiều nhạt nắng , xa xa là những ngọni đồi tím ngắt hoa mua hoa sim trên cánh núi Sơn Gà hùng vĩ . Tôi thấy những con đường làng " mõi sớm tinh sương " những giot suơng long lanh trên cành non lá biếc, nhưng con đường làng quanh co như một vòng tay xanh bao bọc làng quê yêu mến , núp dưới nhưng rặng tre ấy là mái đình làng rêu phong cổ kính do bàn tay điêu luyện của những thợ hồ Khánh Vân xây cất
Bài thơ đưa tôi về với Đại lộc những ngày xưa với một vùng quê dâu tằm vàng óng
" Con Tằm Đại lộc xe tơ
Bãi dâu Đại lộc lờ mờ bên sông "
Với trái loon boong ngọt liệm của Đại sơn , với cái mênh mông một vùng trời nước của buổi chiều Khe Tân khi hoàng hôn buông xuống . Tôi thấy cả cái xôn xao của những buổi chợ Ái nghĩa ,Phường Đông,Hà nha, Bên dầu , Quảng Huế trong nhưng ngày giáp Tết . Đâu đó trong mõi đoạn thơ hình như có tiếng hát Bài Chòi trong những đêm hội , có nhịp trống Đại Minh , tiếng đục đẽo vào trong từng hòn đá xanh của những nguời thợ Đại Chánh và có cả huơng vị thơm ngon đậm đà của tô mì Quảng ...
Tất cả những hình ảnh trên đã thôi thúc những tâm hồn tha hương lữ thứ hảy quay về với Đại lộc .
Hảy về đi dòng sông Thu vẫn còn đó trên cánh đồng làng vẫn còn nhưng cánh diều của tuổi thơ . Khe Lim Suối mơ vẫn róc rách tuôn nhưng dòng nước tưới xanh cho những cánh đồng bên chân núi và căn nhà xưa nơi tuổi thơ ta sống bên hiên nhà đầy lá rụng mẹ vẫn con ngồi , như ngay xưa mẹ thường nhắc nhỡ " bước lên thềm khoé té nghe con ! "
... Nhưng miếng cơm manh áo , bước công danh đường hoạn lộ , ngần ấy năm trời nơi đât khách con vẫn còn là kẽ trắng tay thì làm sao con về với mẹ !
Nhưng về làm gì , ừ thôi - mẹ hiểu
Gần nữa đời contển đường long đong
Gần nữa đời con chưa tròn manh chiếu
Như bây giờ ngôi chới với tay không
Dẩu vậy nhưng ta vẫn có niềm tin mãnh liệt về một cuộc đời hạnh phúc về một tuơng lai rạng rỡ vẫn con phia trước . Hình như lạc quan yêu đời tin tưởng vào cuộc sống là bản chất của mõi nguời Đại lộc !?
Con ngữa bàn tay tư bàn tương số
Đường đời thật dài chắc sẽ sống lâu
Chắc sẽ qua mau le nao khổ mãi
Hạnh phúc đường này chắc sẽ đến mau
Bỡi sâu thẳm của mõi linh hồn tha hương là quê hương yêu dấu đang thay đổi và lớn lên từng ngày mỡ rộng vòng tay che chỡ cho những trái tim muốn quay về .
Ừ con sẽ về thôi mẹ ạ con sẽ về để mẹ không còn chiều chiều dõi mắt về nơi xa ngóng " thắng con lang bạt ruổi dong ..."
Hởi những tâm hồn tha hương nơi đất khách . Nơi chốn xa làm gì có " Hòn Kẽm Đá Dừng " để:

Ngó lên hòn Kẽm Đá Dừng
Thuơng cha nhớ mẹ qua chừng lắm bậu ơi !

Bình Định 2004 Đại lộc 2006
Tiểu Vũ

ĐI HÁI BÒN BON

CUNG DIỄM 

Sàng đầu lưu Bắc phiến
Giang thượng lạc Nam Trân

                                TÚ QUỲ

Nói đến bòn bon, lẽ ra phải nói rằng bòn bon thuộc họ nào và tên khoa học gọi là gì thì mới đúng bài bản nhưng lại nghĩ rằng đã có những nhà thực vật học làm cái việc ấy nên cái khoản mà mình không rành hay nói đúng hơn là không biết thì cứ "dựa cột" là chắc ăn.
Người Quảng Nam ít ai gọi là bòn bon mà đa số đều gọi là lòn bon, ngay trong câu hát ru em từ thế hệ này đến thế hệ khác cũng cứ:

À ơi lụt nguồn trôi trái Lòn bon
Cha thác mẹ còn nên chịu chữ mồ côi.

Cây bòn bon không phải riêng ở Quảng Nam mới có mà trong miền Nam cũng rải rác ở miệt Tây Ninh nhưng có điều trái bòn bon trong Nam nhỏ mà lại chua tuy không đến nỗi chua "lét" nhưng so với bòn bon Quảng Nam thì thua xa. Quảng Nam có hai nơi có loại quả này là vùng rừng thuộc huyện Đại Lộc và huyện Quế Sơn, tuy nhiên cây bòn bon ở Quế Sơn chỉ có một ít gần các nơi người Thượng ở như Làng Da và Làng Rô. Ở miệt này cứ đến mùa bòn bon là dân các làng như Dùi Chiêng, Bình Yên, Phú Gia cứ mang muối, rựa vào đổi bòn bon đem về ăn hoặc bán. Bòn bon ra trái từng chuỗi chứ không từng chùm như nho, khi chín có màu vàng nhạt như mỡ gà nom rất đẹp. Quả có từng múi, mỗi múi mang một hột bên trong. Hạt bòn bon rất đắng nên khi ăn ta chỉ nhấp nhấp để thưởng thức cái mùi vị thơm ngọt của bòn bon rồi nuốt luôn cả hột bởi vì không tách riêng được múi với hạt. Đặc biệt ở làng Dùi Chiêng có nhiều người đã đem cây bòn bon về trồng ở vườn nhà cùng với các loại cây ăn trái khác. Nổi tiếng nhất là vườn bòn bon của bà Bát Lợi, nhờ chăm sóc, cây xum xuê, cho nhiều quả và ngọt không kém mấy so với bòn bon rừng.

Nếu so với bòn bon Đại Lộc thì Quế Sơn chẳng thấm vào đâu Đại Lộc từ ngã sông Con đi lên có nhiều cây bòn bon mọc thành rừng và nổi tiếng ngon. Nếu Hưng Yên có nhãn ngon để "tiến" vua - gọi là nhãn tiến = thì quả Nam Trân của Quảng Nam cũng chẳng chịu nhường. Tương truyền rằng khi Đức Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn tức vua Gia Long khi còn chống với Tây Sơn đã có lần nhờ trái bòn bon của Đại Lộc để đỡ đói trên bước đường bôn tẩu. Các ông bà già lão còn nói rằng trong múi của trái bòn bon có một vết bấm đó là vết móng tay của vua khi xưa. Lúc còn bé, mỗi lần ăn bòn bon là tôi cố tìm cho được cái vết ấy để rồi vênh mặt lên kể cho mấy thằng bạn hàng xóm về cái "hiểu biết" của mình. Quả là... trẻ con.

Như đã nói trên, bòn bon Đại Lộc mọc thành rừng, dân chúng không được vào ra trừ dịp vào hái trái khi bòn bon đã chín. Để bảo vệ khi còn Pháp thuộc - huyện sở tại chọn một người tại địa phương làm chức Quản Viên để coi sóc. Mỗi năm khi đến mùa hái quả Quản Viên hái một ít mang trình quan huyện sở tại, huyện lại đưa về Tỉnh để xem xét việc làm này gọi là "chạy kiểu". Khi quan Tỉnh thấy bòn bon đã thu hoạch được thì thông sức cho địa phương chọn hái những loại ngon, ngọt, lớn trái đóng vào những giỏ lớn mang ra Huế dâng Vua. Xong việc này, huyện địa phương báo cho Quản Viên biết là thông sức cho xã biết ngày giờ nhập viên để hái quả. Khi được thông báo, dân chúng ai muốn đi hái thì chuẩn bị cơm ghe bè bạn, ngược sông Con để đến nơi ấn định mà Quản Viên đã cho biết. Sông Con là một nhánh sông nhỏ chảy xuống từ Thượng nguồn huyện Thượng Đức và gặp sông Thu Bồn ở Giao Thủy để cùng đổ ra cửa Đại Chiêm. Đã là sông Con nên càng về thượng nguồn càng hẹp dần. Tất cả những ghe thuyền đi hái bòn bon đều dừng lại ở thác Trưởng để đợi lệnh nhập viên, Thác Trưởng không chảy xiết lắm và có một loại cây mọc dưới nước gọi là Rì ngang qua sông từ bờ này đến bờ kia. Có nhiều đàn khỉ cứ nương theo cây rì để qua sông kiếm ăn, do đó dân địa phương mới gọi là Thác Trưởng, thậm chí còn gọi là thác ông Trưởng chỉ vì muốn tránh tiếng khỉ nên gọi né đi. Sở dĩ như thế vì giống họ nhà khỉ vốn liếng thoắng, tọc mạch phá phác nên dân quanh vùng không dám gọi đích danh. Khi không có người trong thuyền, họ hàng nhà khỉ rủ nhau vào lục lạo tử niêu cơm, trả cá, thức gì ăn được thì chúng giành giựt nhau chí chóe, cái gì không bỏ vào mồm được như con dao, cái rựa... chúng bèn quảng tung cả xuống sông. "Ông Trưởng". Té ra những loại chuyện phá hại nồi cơm chén mắm của dân chúng đều được dân chúng tôn bằng Ông cả. Ông Cọp, ông Voi, ông Trưởng, ông Tí, ông Sói...và còn rất nhiều "ông" khác nữa.


Những người đi hái bòn bon đều chuẩn bị gồng gánh và một cái "xà lắc" còn gọi là cái "gùi" mang sau lưng để đựng khi leo lên cây. Vào giờ Dần, khoảng từ 4 đến 6 giờ sáng, ngày đã định, Viên Quản Viên cho đánh một hồi lại ba dùi trống lớn, tan hồi trống, mọi người ùa nhau vào vườn đề mong vớ được những cây sai quả. Có điều không phải tất cả đều là cây bòn bon mà còn có các loại cây khác mọc chen vào. Vào cái giờ ấy, giờ Dần, trời chưa tờ mờ mà rừng cây lại rậm rạp thì cứ kể như là còn tối như om, nên mọi người sờ soạng và ôm đại một gốc để choáng phần rồi chờ sáng rõ mới trèo lên để hái. Vui nhất là những người chưa có kinh nghiệm cứ ôm khư khư một gốc cây đến khi sáng ra xem lại thì chẳng phải là cây bòn bon mà lại là một cây rừng khác. Người có kinh nghiệm khi ôm gốc cây lúc trời còn tối đều gặm vỏ cây nếm thử để xem có đúng là cây bòn bon hay không, nếu chẳng phải thì lập tức tìm một cây khác. Người dân Quảng Nam vốn ăn chắc mặc bền, tính bộc trực có răng nói rửa nhưng rất tất bụng, có điều khi tranh luận điều gì thì "phe ta" nhất định phải cho ra ngô ra khoai mới chịu. Quảng Nam hay cãi là thế. Những người không may vớ phải những cây không phải là bòn bon dĩ nhiên là không hái được để mang về thì được bà con chia cho mỗi người một ít nên không đến nỗi phải đi không về rồi.

Thế rồi tại các chợ như Ái Nghĩa, Quảng Huế, Phú Thuận, Phường Đông...đều có bòn bon do các người đi hái được mang về thì ban 1. Lại có người không đi hái được thì bỏ tiền mua sỉ để xuôi về Hội An trước là bán kiếm lời sau lại có dịp thưởng thức một vài tô Cao Lầu, Hoành Thánh, hai món nổi tiếng của Faifo hoặc ít ra cũng "làm" một bụng "mì ghe" - mì bán trên sông - để nghe giọng rao ngọt lịm của cô hàng: A...a...a...i...mì...hô...ô...ông. Đây là chuyện đi hái bòn bon vào những năm xưa dễ chừng non nửa thế kỷ, còn về sau này thì không còn như thế nữa. Thời cuộc thay đổi, rừng núi cũng đổi thay, lớp người trẻ nghe kể lại cứ há mồm, vểnh tai như nghe một Chuyện Cổ Tích. Hiện thời, bòn bon Đại Lộc vẫn còn nhưng không tú mậu như thuở xa xưa. Cây cằn cỗi, trái nhỏ đi, đến mùa quả chín, chính thuyền địa phương cho đấu thầu, ai đấu được thì vào rừng thu hoạch rồi lại mang đi Đà Nẵng, Vĩnh Điện, Hội An để bán kiếm lời và cũng kiếm một số bòn bon hoặc để cho bạn bè, biếu xén và cũng để cho con cháu ăn tóp tép... vui mồm.

ĐẠI LỘC NGÀY XƯA

Trần Đình Nhân

Đại Lộc ngày xưa tôi nhớ lắm. Vài lần đi củi, lên núi Ngọc Linh nhìn xuống thấy huyện Đại Lộc quê tôi đẹp như tranh, những mảng màu xanh bên những dải dài màu trắng lóng lánh chính là những thôn làng quê tôi đang bám lấy các dòng Vu gia, Thu bồn đó. Dòng Vu Gia lượn lờ quanh co, bắt nguồn từ xã Đại Sơn, băng qua hầu hết các xã trong huyện, để rồi chia tay ở Đại Hòa, Đại Hiệp trước khi chảy về với huyện Hòa Vang. Sông Thu Bồn như là ranh giới huyện về phía nam, bọc từ vùng núi Đại thạnh cho đến những bãi dâu Đại hòa.

“Tôi đi giữa một cánh đồng,
Ngóng sông bên nọ, ngóng sông bên này.”
Hai câu thơ này của ai đó (không biết tôi trích có đúng không?) hình như nói về hai dòng sông trên của quê tôi.
Quê tôi còn có sông Giao Thủy nữa, đó là dòng nối giữa sông Vu Gia và sông Thu Bồn, sông cạn lắm, mùa hè đã mấy lần tôi lội qua.
Người dân quê tôi mang ơn sông nhiều lắm. Nhờ sông mà những cánh đồng lúa quê tôi luôn được tưới mát, ba mùa lúa nước đã phần nào giúp quê tôi lo được cái ăn. Bây giờ người dân quê tôi không chỉ sống dựa vào dòng sông khi mà nhiều ngành nghề khác đã phát triển.

Ngày xưa Đại Lộc rộng lắm, đi cả ngày không hết. Mỗi lần huyện tổ chức mit-ting, dân các xã xa phải đi từ hôm trước. Tôi và nhiều bạn ở vùng B, vùng C đi học trường huyện cũng phải ở lại, cuối tuần mới về thăm nhà một lần. Nhiều bạn nhà không gần trường nhưng cố đi về trong ngày nên suốt ngày cứ đi trên đường, thời gian đi có khi bằng thời gian học, đúng là đi-học. Bây giờ Đại Lộc như nhỏ lại, có lẽ bởi chúng tôi hầu như ai cũng có xe máy, đi lại thăm nhau dễ dàng, nếu không đến với nhau thì chỉ do thiếu tấm lòng mà thôi.

Đại lộc ngày xưa nghèo lắm. Tôi nghèo, bạn tôi nghèo, mọi người nghèo, cũng may nhờ nghèo đều như thế nên không ai thấy mình nghèo. Những năm quê tôi còn làm theo cơ chế HTX nông nghiệp, năng suất lúa quá thấp do đồng ruộng không được xã viên chăm sóc, chúng tôi thậm chí không đủ gạo để ăn. Những ngày đi học và ở trọ lại thị trấn Ái nghĩa, buổi tối chúng tôi thường đi dạo ngang qua quán chè Cây Dừa (hình như tên như thế và sau này nghe nói là của gia đình bạn An học cùng trường) nhưng chúng tôi không bao giờ dám vào, vì chúng tôi thậm chí không đủ gạo 60 lon một tháng để nộp cho chủ nhà trọ. Sau này dân được khoán ruộng để canh tác nên đời sống có khá hơn. Chúng tôi không có nhiều áo quần mặc đến trường như bọn trẻ bây giờ, nhờ thế nên giờ khi nhớ đến bạn bè ngày đó vẫn có thể nhớ cả cái áo cái quần mà bạn mình hay mặc. Nhà đứa nào khá giả thì có chiếc xe đạp để đi học, còn không thì cuốc bộ với đôi dép lốp. Tôi may mắn có chị làm thương nghiệp (hồi đó làm ngành này oai lắm) nên được chị cho chiếc xe đạp. Bây giờ mọi người ai cũng khá hơn, gặp nhau là nhậu, quí nhau là phải nhậu hết mình với nhau. Chúng tôi ngồi nhắc lại những năm tháng thiếu thốn ngày xưa, nâng niu quá khứ khổ cực và tự hào bởi mình có được những kỷ niệm đẹp như thế (có khi còn thấy mình may mắn hơn lớp trẻ bây giờ vì được cực nhiều hơn)!

Ngày xưa Đại lộc không có nhiều người được đi học đến nơi đến chốn. Mỗi xã chỉ có vài đứa may mắn được cha mẹ cho đi học tiếp cấp 3. Bạn tôi hàng trăm đứa ở xã Đại minh phải bỏ học ở cấp 2, ở nhà làm ruộng hoặc đi học nghề. Lên cấp 3 chúng tôi không có nhiều thời gian cho việc học, đến mùa gặt có khi cả tuần chúng tôi nghỉ để cùng làm với gia đình. Chúng tôi chỉ có vài cuốn sách sách giáo khoa, chúng tôi không biết đến sách bài tập toán là gì vì ngay cả các bài toán trong sách bài học chúng tôi còn không làm hết. Bây giờ con cái chúng tôi sướng hơn khi chúng được học cả ngày lẫn đêm, học trong giờ, học ngoài giờ, học cả ngày nghỉ, sách vở nhiều đến oằn cả vai (không biết có sướng thật không)!

VIỆT NAM TRONG TRÁI TIM
TRẦM TỬ THIÊNG

- Trầm Tử Thiêng,
người chép sử lưu vong bằng âm nhạc

*HUY PHƯƠNG


Một người đã sống một cuộc đời khắc khổ, đạm bạc pha đôi chút cô đơn, lúc ra đi bình thản, lặng lẽ nhưng đã để lại cho đời một kho tàng âm nhạc vĩ đại, vĩ đại không ở chỗ nhiều người nghe, nhiều người thuộc như các tác giả thời danh khác, mà ở ông tấm lòng của một người lưu lạc, luôn luôn tin tưởng vào đất nước một ngày mai. Nơi ông, suốt đời và nhất là những năm cuối cùng, hai chữ Việt Nam luôn luôn như một lời réo gọi chứa chan thương yêu ngọt ngào và đầy hy vọng.

 Nguyễn Văn Lợi (tên thật của ông) ra đời tại quận Đại Lộc, Quảng Nam năm 1937, đã lớn lên và trải qua thời thơ ấu trong Liên Khu Năm Nam Ngãi, những năm tháng chiến tranh và ông đã hiểu thế nào là một đời sống trong chế độ Cộng Sản nhất là với tuổi ấu thơ. Khi mảnh đất này được tự do, ông vào Saigon theo học trường Sư Phạm Nam Việt và trở thành một thầy giáo, chăm sóc đám trẻ thơ của đất nước. Bản chất của ông cũng như nghề nghiệp đã đào tạo Trầm Tử Thiêng thành một người nhân hậu nhưng thẳng thắn, cương quyết đi đến tận cùng, nếu cần để tranh đấu cho lẽ phải.

Những ca khúc đầu tay cũng như những sáng tác trong thời gian bị động viên: “Mưa Trên Poncho”.”Đêm Di Hành”, “Quân Trường Vang Tiếng Gọi” đã đưa ông từ quân trường về Phòng Văn nghệ, Cục Tâm Lý Chiến, nơi ông có thể đành tất cả thời gian cho việc sáng tác và sinh hoạt âm nhạc của ông. Tuy ở trong một môi trường mà những ca khúc của ông có thể phổ biến mạnh mẽ trên thị trường  để đem lại no ấm cho ông như các nhạc sĩ thời thượng vào lúc bấy giờ, Trầm Tử Thiêng đã chọn con đường đi của mình. Đó là Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ của thời đại với những nỗi buồn vui chung, không phải của riêng ai. “Đưa Em Vào Hạ”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy”, “Hương Ca Vô Tận”, “Bài Vinh Thăng Cho Một Loài Chim”... là những ca khúc của một thời chinh chiến mà những người như Trầm Tử Thiêng đã sống và cảm nhận, trang trải với những âm thanh làm xúc động lòng người.

Nhạc của Trầm Tử Thiêng mang âm hưởng dân ca như những bài “Trộm Nhìn Nhau”, “Hương Ca Vô Tận”, “Đưa Em Vào Hạ”, “Cha Đàng Ngoài, Mẹ Đàng Trong”, và lời thì trau chuốt, ngọt ngào, trong nội dung, quê hương và tình yêu luôn luôn là những đề tài của nhạc ông. Vào thời bấy giờ, trong chiến tranh, nhạc ông đã có những ước mơ về hoà bình và những lời kêu gọi quên hận thù: “Ta gánh chung đau thương một trời, Nam Bắc ơi, yêu thương tình người”(Hoà Bình ơi! Việt Nam ơi!) hay:”Thù hằn anh em bỗng ngày mai, nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà” (Kinh Khổ).

Năm 1990, Trầm Tử Thiêng được biệt phái trở lại ngành giáo dục và làm việc tại Trung Tâm Học Liệu, tại đây ông đã có cơ hội làm việc với các nhạc sĩ đàn anh như Hùng Lân, Lê Thương...và cho ra đời tuyển tập nhạc dành cho thiếu nhi “Hãy hát Lên Tuổi Thơ”.

Sau tháng 4 năm 1975, bản thân của Trầm Tử Thiêng hoà vào niềm đau chung của cả dân tộc, ông là một trong những người vượt biển, tù đày, bị lao động cưỡng bức trên nông trường. Đây là giai đoạn ông viết “ Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển”, “Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt”, “Du Ca Trên Thành Phố Đỏ”...Bối cảnh những cuộc vượt biển, chia ly, chết chóc thể hiện trong: “Gởi Em Hành Lý”, “Người Ở Lại Đưa Đò. “Mẹ Hậu Giang”, “Trại Tỵ Nạn Galang”.

Mừơi năm sau biến cố điêu linh của đất nước, Trầm Tử Thiêng đến được bến bờ của Tự Do, “Mười Năm Yêu Em” mang ẩn dụ mười năm khao khát được thấy ánh sáng ý nghĩa của cuộc đời nhưng đồng thời cũng cùng với những đắng cay của nó. Trầm Tử Thiêng đã sống qua thời thơ ấu trong chiến tranh, lớn lên cùng chiến tranh và người nhạc sĩ này đã đi theo nhịp bước của những con người Việt Nam bình thường, khoác áo trận, ngã nghiêng vì vận nước, tù đày, xót xa cùng thân phận chung của những người vượt biển, bỏ nước ra đi.

Được đến bến bờ tự do dù là muộn màng, Trầm Tử Thiêng, người nghệ sĩ chân chính, không lo chuyện cơm áo mà thấy mình có bổn phận của con người nhớ đến con người. Trầm Tử Thiêng còn biết nhìn lại những trại cấm, đêm ngày đang vẳng tiếng kêu siết của những người đói tự do, đuổi người trở lại biển khơi hay trói người trả lại nơi khổ nhục mà nơi đó họ đã ra đi, trong chiến địch “cưỡng bức hồi hương” để viết nên “Nói Với Hồng Kông”, hay “Thà  Chết Nơi Này”. Người nhạc sĩ đã thoát ra từ nỗi khổ đau của riêng mình, để hoà nhập trải lòng ra với những nỗi khổ đau của con người, đó là lúc ông nghĩ đến những đồng bào đang “mắc cạn” trên những hòn đảo trong Thái Bình Dương, mà giấc mơ nhìn thấy ánh sáng tự do tàn phai cùng năm tháng. Tấm lòng của Trầm Tử Thiêng lại giạt dào : “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông”!

Trong thời gian định cư tại quận Cam, Trần Tử Thiêng đã tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng như thành lập Thư Viện Việt Nam với du Miên, Trần Đức Lập..., làm cố vấn cho Tổng Hội Sinh Viên VN tại Nam Cali, cũng như góp một bàn tay vào phong trào vận động các gia đình Việt Nam khuyến khích con em học Việt Ngữ. “Vang Vang Tình Việt Nam” là một bài hát mà Trung Tâm Việt Ngữ nào ở Nam Cali cũng biết tới, với câu “tiếng quê người hoà chung tiếng mẹ ru.”

Trầm Tử Thiêng đóng góp cho phong trào du ca không phải là ít, nhất là từ khi ra hải ngoại, tuy ông không muốn đứng trong phong trào du ca, nhưng ông vẫn sáng tác đều và tham gia hoạt động du ca nối dài là “hát cộng đồng”, rất được giới trẻ tham gia, phong trào rất được phổ biến vào cuối thập niên 90 tại Hoa kỳ, nhất là vùng California, với những nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, Nhật Ngân, Nguyễn Đức Quang và Xuân Điềm về sau này.

Cho tới khi Trầm Tử Thiêng gặp được Trúc Hồ, con người sinh ra sau ông gần một thế hệ mà gần gũi như một người bạn tri kỷ. Cả hai cùng nhìn về những người bất hạnh hơn họ, nhìn về những đứa trẻ thơ thiếu may mắn hơn tuổi thơ của họ, sinh ra và lớn lên trong vòng rào kẽm gai của những trại tỵ nạn, không hề có tương lai. Xúc cảm, Trúc Hồ đã viết nên những dòng nhạc chan chứa yêu thương, và Trầm tử Thiêng đã diễn dạt bằng lời hát ngọt ngào, kêu gọi “Bên Em Đang Có Ta”. Đây không là một bản tình ca của một người, mà là bản tình ca nhân ái dành cho đồng loại. Cũng với tấm lòng đó, trước khi qua đời, Trầm Tử Thiêng muốn thành lập một “foundation” mang tên ca khúc “Bên Em Đang Có Ta” dành cho những em bé tỵ nạn đang còn bơ vơ trong các trại cấm. Ngày nay không còn những trẻ em sau hàng rào kẽm gai trong trại cấm tại các hòn đảo trên Thái Bình Dương, nhưng tại quê nhà vẫn còn nhiều trẻ em nghèo đói, thất học, lam lũ giữ chợ đời, trên đường phố để kiếm miếng cơm, thì quỹ “Bên Em Đang Có Ta” vẫn còn nghĩa vụ hướng về các em bé bất hạnh tại Việt Nam.

“Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng” nói lên giai đoạn “cưỡng bách hồi hương” đã chấm dứt, khi đồng bào đã tìm được đất dung thân trên đất Phi, và đó cũng là lời tiên tri cho những năm tháng sau cùng, nhờ sự vận động của Luật sư Trịnh Hội và các tổ chức thiện nguyện ở hải ngoại tiếp tay cứu vớt họ đến bến bờ tự do.

Đánh dấu 20 năm bỏ nước ra đi của người Việt tỵ nạn, trung tâm Asia đã thực hiện chương trình “1975-1995” như một tác phẩm đánh dấu nỗi gian nguy, ghi nhớ những người đã khuất cũng như ngỏ lời cám ơn những bàn tay rộng lượng khắp năm châu đã dang tay đón nhận những người tỵ nạn. Đó là “Bước Chân Việt Nam”, do Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ viết chung, như một bản quốc ca cho những người Việt Nam thống khổ, lưu vong. Trong niềm tin tất yếu vào tương lai, người nghệ sĩ khẳng định về một ngày mai của đất nước, một ngày mai có tự do, dân chủ và nhân quyền, “Một Ngày Việt Nam” hợp soạn giữa hai nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ chính là nỗi mơ ước ấy. Chính chúng ta, những người Việt lưu vong sẽ bước trở về theo nhịp bước đồng hành reo vui của “Một Ngày Việt Nam”như nỗi ước mơ của bao người, thế hệ này không thành thì hy vọng đến đời sau.

Về phương diện chính trị, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có thái độ đứt khoát, như lời thổ lộ với bạn bè: “Sẽ về Việt Nam nhưng về với tư cách nào?”. Nhìn lại toàn bộ nhạc phẩm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, chúng ta thấy con người của ông hình như sinh ra để sống và viết cho người khác hơn là cho cõi riêng tư của ông, và nếu có thì cõi riêng tư đó cũng mang niềm vui hay đau xót chung của cả dân tộc. Từ một bài hát từ quân trường của ngày nhập ngũ đến ca khúc bát ngát tấm lòng nhân ái đối với con người và đất nước, Trầm Tử Thiêng đã đi hết con đường trong gai góc của chiến tranh, tù đày, vượt biển và lưu vong, cho nên có thể nói toàn bộ nhạc phẩm của người nhạc sĩ này phản ánh đời sống và tâm trạng của một con người Việt Nam lưu vong.

Trầm Tử Thiêng ra đi vào ngày 25 tháng 1 năm 2000 sau một thời gian chữa bệnh nan y theo cách riêng của ông và đã chết vì kiệt lực khi mỗi ngày chỉ nhấp vài  giọt nước. Trước đó, năm 1972 Trầm Tử Thiêng đã viết bài “Tưởng Niệm” như một định mệnh. Ông viết bài “Hẹn Nhau Năm 2000”, nhưng đầu năm ấy, ông đã bỏ bạn bè ra đi quá sớm. Trong số những nhạc sĩ sáng tác có nhiều gắn bó với quê hương nhất thì Trầm Tử Thiêng là một tên tuổi sáng chói với rất nhiều nhạc phẩm đã đi vào lòng người từ trước năm 75 cho đến khi ông qua đời vào hồi 8 giờ 15 sáng ( giờ California ) ngày Thứ Ba 25 tháng 01 năm 2000 tại bệnh viện Anaheim West Medical Center, nam California thuộc thành phố nơi ông cư ngụ. Hồ sơ bệnh lý của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng ghi lý do đã đưa đến cái chết là bị ngộp thở do bệnh tim, sau khi được đưa vào bệnh viện vào ngày hôm trước. Ông ra đi không một lời trăn trối mặc dù có người cháu trai bên cạnh. Ông sống đời độc thân cho đến khi nhắm mắt, trong khi gia đình ông còn ở tại Việt Nam. 

Trầm Tử Thiêng chết không trẻ, giữa lúc ông đã đến tuổi 64, nhưng hình như nơi ông, chúng ta tìm thấy hình ảnh một ông thầy giáo khắc khổ, sống đạm bạc và cô đơn cho tới  lúc cuối đời, hơn là một người nghệ sĩ nổi tiếng hiện diện giữa đám đông hay dưới ánh đèn sân khấu. Trầm Tử Thiêng ít bộc lộ cuộc đời riêng của ông, những mối tình ít người biết cũng như cả bệnh tật ông mang vào những ngày cận tử. Nhưng dưới mắt bạn bè, Trầm Tử Thiêng là một người đạo đức nhân hậu, rộng rãi và thẳng thắn, tuy đôi khi nóng nảy. Anh cũng được tiếng là người  trọng nghĩa khinh tài.

Trầm Tử Thiêng ra đi là một niềm mất mát lớn, trong phạm vi nhỏ là với những trung tâm băng nhạc ông đã cộng tác, mà nhất là Asia, nơi mà Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ đã chung sức và tâm huyết viết nên những ca khúc để đời. Nếu mai sau, dất nước không còn Cộng Sản, không còn thù hận, đố kỵ giữa con người chung một quê hương, thì những bản nhạc của riêng ông hay viết chung với Trúc Hồ là những bản nhạc mang tính chất lịch sử, phải được đời sau nhắc nhở.

 Có thể nói, Trầm Tử Thiêng chết đi cho đến giờ này, bảy tám năm sau, cho tới giờ này, hải ngoại vẫn chưa ai có thể thay thế ông. Bảy năm, người bạn vong niên của ông, Trúc Hồ như mất nguồn cảm hứng, nếu không nói như Bá Nha đập vỡ cây đàn khi Tử Kỳ không còn nữa, đó là điều mà người đời gọi là tri âm, tri kỷ.

Ông không còn sống để chờ những “tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, nhưng ông đã trao lại cho thế hệ trẻ tuổi niềm tin vào một buổi sáng bình minh của đất nước, để chúng ta có thể trở về như lời tiên tri của ông:“người về một giờ một đông hơn !”trong bài “Kinh Khổ”.

                                                                 See all 34 videos   Nhạc audio   Nhạc phẩm 

Tham Quê Em Ðại Lộc(thơ phổ nhạc slow boston)

Anh dến thăm quê hương em Ðại Lộc

Cao ngất Truờng Sơn, trùng trùng điệp điệp

Dòng sông Vu Gia bên lỡ bên bồi

Anh ngắt tặng em cành hoa thiên lý

Nối tình ngàn dặm bằng nụ hôn môi

Ðồng cỏ xanh tươi mục đồng thổi sáo

Bên đồi sim tím hẹn thề trăm năm

Ta dắt nhau di trên cầu Ái Nghĩa

Cùng đến Suối Mơ, róc rách Suối Tho

Bên nầy Khe Tân, Bằng Am, Ðại Lãnh

Bên kia Bàu Voi, Quảng Huế ân tình

Sông nuớc giao duyên thành dòng Giao Thủy

Suởi ấm cõi lòng suối nóng Thái Son

Thơm ngát Nam Trân, ngọt ngào Tố Nữ

Hoa thắm khoe màu, chào đón giai nhân

Ðại Lộc quê hương nguời em sầu mộng

Mới đến một lần lòng đã vấn vương

Tân Văn

(Nam Trân = trái bòn bon, đuợc vua Gia Long ban cho tên dó vì lúc chạy giặc dói phải an trái nầy dể sống sót, Tố Nữ= mít uớc rất ngon ngọt của Ðại Lộc, những chữ viết hoa là dia danh)

 
Tân Văn

 

 

 

 

NLĐ)- Tối 8-5, gia đình ông Võ Văn Thành (xã Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) cho biết gia đình ông đã đưa thi thể con trai là Võ Văn Khánh (SN 1981) chết tại trụ sở Công an huyện Điện Bàn (Quảng Nam) về Đại Lộc vào lúc 6 giờ cùng ngày. Ngay hôm nay nhân dân Đại Lộc kéo xuống biểu tình ngay trước trụ sở Công An tại thị xã Điện Bàn, mọi người không còn sợ hãi vì được quỹ bảo vệ Công Lý từ hải ngoại giúp đỡ đền bù sinh mạng xứng đáng nếu có thương vong, cuộc biểu tình đang xảy ra lớn náo động cả thị xả Vĩnh Điện, tình Quảng Nam. Theo phản ánh của gia đình ông Thành, cách đây vài ngày, Khánh đi mô tô xuống Điện Bàn và bị CSGT ở đây bắt giữ xe vì không có giấy tờ xe và hẹn đến thứ sáu (ngày 7-5) Khánh trở lại để giải quyết. Sáng 7-5, Khánh đã đến trụ sở Công an huyện Điện Bàn theo hẹn. Đến 21 giờ cùng ngày, gia đình ông nhận được tin từ Công an huyện Điện Bàn cho biết Khánh đã treo cổ tự tử. Tuy nhiên, trên vùng mặt của Khánh bị trầy xước, sườn trái bị lún gãy nên gia đình ông nghi ngờ Khánh bị đánh. Tối cùng ngày, đại tá Phan Như Thạch, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam, khẳng định việc Khánh chết tại trụ sở Công an huyện Điện Bàn là có thật. Khánh dùng dây treo cổ tự tử chứ không phải bị đánh. Đại tá Thạch cho biết thêm: Trong quá trình xử lý xe vi phạm, Công an huyện Điện Bàn đã phát hiện mô tô doKhánh sử dụng là xe đã được trình báo bị mất cắp. Tại Công an huyện Điện Bàn, Khánh thừa nhận biết là xe ăn cắp nhưng vẫn mua chứ Khánh không lấy cắp xe. Vì vậy,Công an huyện Điện Bàn quyết định tạm giữ Khánh để điều tra. Trong quá trình tạm giữ, Khánh đã dùng dây treo cổ tự tử. Trước đó, tối 7-5, VKSND, Công an tỉnh Quảng Nam và cán bộ pháp y của tỉnh đã khám nghiệm tử thi và kết luận Khánh chết do treo cổ. Ngay hôm nay nhân dân Đại Lộc kéo xuống biểu tình ngay trước trụ sở Công An tại thị xã Điện Bàn, mọi người không còn sợ hãi vì được quỹ bảo vệ Công Lý từ hải ngoại giúp đỡ đền bù sinh mạng xứng đáng nếu có thương vong, cuộc biểu tình đang xãy ra lớn náo động cả thị xả Vĩnh Điện, tình Quảng Nam. Nhân dân Đại Lộc đã từng đi tiên phong biểu tình chống sưu cao thuế nặng thời thực dân Pháp cai trị vào năm 1908 mở màng cho phong trào đấu tranh Dân Chủ của cụ Phan Châu Trinh thời điểm đó, có lẽ lịch sử tái diễn chăng? Nhân dân nổi dậy đánh và giết chết nhiều công an ác ôn. http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=3385 Hà Tĩnh - Vì không chịu nổi sự áp bức của bọn công an, tay sai của đảng CSVN, nhân dân đã đánh trả bọn chó săn nầy một cách quyết liệt. Theo báo cáo của bộ công an thì chỉ tính riêng huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, nhân dân đã đánh tàn phế trên 30 công an và giết chết 3 tên. Tên ác ôn công an trưởng thuộc xã Kỳ Xuân, Dương Xuân Phú đã bị nhân dân ném mìn tự chế vào nhà ngày 3 tháng 5 năm 2008. Một tên ác ôn khác là Phó chủ tịch kiêm Trưởng công an xã Kỳ Hoa bị nhân dân ném mìn vào nhà gây tử vong cùng với đứa con gái của hắn là Hoàng Thị Mai, vợ và đứa con trai của tên ác ôn nầy là Hoàng Thị Nhung và Hoàng Đình Tấn may mắn thoát chết nhưng bị thương nặng, tàn phế. Công an Trần Đức Lợi - Phó trưởng công an xã Kỳ Sơn - huyện Kỳ Anh bị nhân dân dùng xe đâm thẳng vào người hắn, kéo lê xác tên ác ôn nầy một đoạn trước khi hắn gặp Bác Hồ. Vào ngày 12-4-2008 tại xã Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh công an xã ác ôn Bùi An đã đến nhà dân khủng bố, vì bị ức chế, anh Thái Quốc Nhu đã dùng dao đâm tên công an Bùi An nầy nhiều nhát gây thương nặng và theo bác Hồ 2 ngày sau đó. Tên Công an ác ôn Lê Hữu Chiến - Công an xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà đã bị nhân dân ném đá bể đầu và gãy xương sườn trong khi đó hai tên công an ác ôn khác là Trần Ngọc Quý - Công an thị trấn Kỳ Anh bị nhân dân đâm lòi mắt cùng với tên Trần Đình Hoán bị tạt axít vào mặt. Nhân Dân ta không thể chịu nổi bọn công an khủng bố, đàn áp ngày càng dã man nên đã nổi dậy, tìm cách phản kháng lại bọn nầy. Công an xã Kỳ Tiến tên là Nguyễn Văn Chuẩn vừa bị nhân dân đổ hóa chất vào giếng nhà hắn và đốt cháy chuồng bò trong khi đó tên công an Nguyễn Xuân Tào - Công an xã Kỳ Phong bị nhân dân đâm thủng bụng. Hiện tượng nhân dân nổi dậy phản kháng lại bọn công an ác ôn đã xảy ra nhiều nơi gây thiệt hại không ít cho bọn nầy như những vụ đốt nhà công an trưởng Xã Kỳ Phong Nguyễn Xuân Tào, dùng mìn ném vào nhà tên ác ôn công An Hoàng Đình Kỳ v.v... Nhân dân VN là một dân tộc hiếu hòa nhưng chắc chắn không thể sống chịu cảnh đàn áp dưới tay những con chó săn công an đảng CSVN. Cuộc nổi dậy của nhân dân gần đây nhắm vào những tên ác ôn công an cho thấy chế độ tàn ác CSVN đang tới thời kỳ dẫy chết. Khi người dân không còn sợ gì nữa thì họ sẽ tự tay dành lấy lại sự Tự Do, Dân Chủ mà đảng CSVN đang cướp của họ. Thu Hiền (Hà Nội) Vietland Staff Một công an viên bị giết dã man tại nhà Người dân xóm 2, xã Nghi Kim, TP Vinh (Nghệ An) mấy ngày nay đang bàn tán xôn xao về cái chết của ông Nguyễn Quốc Ngạn - công an viên của xóm - bởi một đòn đánh mạnh vào đầu và những nhát dao chí mạng. Hiện trường vụ án Sự việc xảy ra trước đó vào chiều ngày 17/8. Nghe tiếng tri hô, hàng xóm xung quanh đổ xô sang nhà ông Ngạn thì thấy ông Ngạn đã chết trên giường với nhiều vết đâm, đầu bị biến dạng bởi một đòn đập mạnh, máu chảy lênh láng. Thời điểm người dân phát hiện sự việc vào đầu giờ chiều nên phán đoán ban đầu là ông Ngạn bị giết trong khi đang nghỉ trưa. Ông Nguyễn Quốc Ngạn có vợ và 4 người con gái. Hiện ông đang giữ chức vụ công an viên kiêm xóm phó xóm 2, xã Nghi Kim. Sự việc đang được công an TP Vinh tiếp tục điều tra làm rõ. Theo VTC news Dân chúng nổi lên chém giết Công An VC 30.03.2010 4 công an bị chém, 1 tử nạn TT - Chiều 29-3, Công an tỉnh Đắk Nông cho biết cơ quan này đang truy bắt các đối tượng liên quan vụ chém các chiến sĩ Công an huyện Đắk G’Long tại xã Quảng Khê đêm 26-3 làm một chiến sĩ tử nạn, ba người khác trọng thương. Chiều qua, bác sĩ Nguyễn Văn Thích - phó giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông - cho biết rạng sáng 27-3, khoa hồi sức cấp cứu của bệnh viện tiếp nhận bốn cán bộ Công an huyện Đắk G’Long bị thương, trong đó anh Nguyễn Hoàng Phương bị thương nặng nhất và đã chết khi chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM). Các công an khác gồm Đặng Xuân Nghiệp, Nguyễn Quang Trung và Y Ban Niê đều bị đa chấn thương do chém. Theo lời kể của chị Nguyễn Thị Hường - nhân chứng chứng kiến trực tiếp vụ việc, một nhóm gồm sáu chiến sĩ công an mặc thường phục ghé đến quán cháo của chị (xã Quảng Khê) để ăn, lúc này trong quán có hai người đàn ông khác. Sau khi hai người này ăn xong thì nổ xe máy ra về. Thấy tiếng nẹt pô của hai vị khách gây ồn ào giữa đêm khuya, một chiến sĩ công an đứng dậy nhắc nhở. Lúc này các bên đã có lời qua tiếng lại nhưng do được nhiều người can ngăn nên mọi chuyện có vẻ êm xuôi. Tuy nhiên, một lát sau hai người đàn ông kéo thêm hai người khác nữa trở lại và một trong số bốn người bất ngờ lao vào dùng mã tấu chém tới tấp vào các công an (lúc này chỉ còn bốn người). Hiện một trong bốn côn đồ gây án đã ra đầu thú. THÁI BÁ DŨNG - LÊ BÌNH Hai người chết tại đồn công an HN Một số vụ liên quan cơ quan công an khiến người dân quan tâm Công an thành phố Hà Nội đang điều tra làm rõ vụ hai người tử vong tại cơ quan công an quận Hai Bà Trưng và quận Hà Đông. Hai vụ xảy ra cách nhau hai tháng, cả hai nạn nhân đều bị thương tích trước khi chết. Được biết Công an Hà Nội sẽ có báo cáo gửi các cơ quan chức năng và trả lời chính thức cho công luận trong tuần này. Vụ gần đây nhất xảy ra hồi tháng 01/2010 đã khiến bảy công an viên bị tạm đình chỉ công tác để điều tra. Trong vụ này, nạn nhân Nguyễn Quốc Bảo (trú tại phường Mai Động, quận Hoàng Mai) bị công an Hai Bà Trưng tạm giữ hành chính ngày 21/01/2010 vì mang theo người vũ khí thô sơ là một dao và một kéo. Rạng sáng 22/01, anh Bảo được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong vì chấn thương sọ não trong khi tạm giữ ở cơ quan công an. Giám định pháp y cho thấy nạn nhân bị vỡ nền sọ và chấn động não, cũng như bị thương ở cổ tay và cổ chân cả hai bên. Vụ trước đó xảy ra hồi tháng 11 năm ngoái, nạn nhân là anh Nguyễn Mạnh Hùng. Người này cũng bị tạm giam tại công an Hà Đông vì hành vi trộm cắp. Sau một hôm bị tạm giữ, anh Hùng cũng được mang đi cấp cứu nhưng đã ngừng thở. Gia đình anh đã làm đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng, vì cho rằng nạn nhân có dấu hiệu bị nhục hình dẫn tới tử vong. Trên chân của anh Nguyễn Mạnh Hùng khi khám nghiệm tử thi người ta thấy nhiều vết bầm tím, phù nề. Bên cạnh những vụ chống lại người thi hành công vụ, các vụ cáo buộc bạo lực do công an, cảnh sát gây ra luôn thu hút sự chú ý của người dân. Đã có một số vụ công an đánh người, hay lạm dụng quyền hành nơi công cộng. Ném vỡ kính UBND quận, đâm thủng bụng bảo vệ 03/03/2010 13:36 (VTC News) - Sau khi lấy gạch ném vỡ kính phòng bảo vệ, bị nhân viên bảo vệ và quần chúng phát hiện truy đuổi, Lắm rút dao hăm doạ và chạy vào các quán ven đường lấy ly ném lại. » Chưa làm rể đã “khoắng” bò nhà bạn gái » Cô gái đồng tính đòi tình bằng hiện trường giả rùng rợn » Một kiểm lâm viên bị côn đồ truy sát trong đêm » Thách đánh nhau, mù mắt vì đạn hoa cải 8h20 ngày 28/2, đối tượng Trần Văn Lắm (sinh 1969, quê ở Bình Dương, sống lang thang tại TP.Hồ Chí Minh), đến cổng bảo vệ UBND quận 10 (số 474 đường 3/2, phường 14, quận 10) lấy trong túi xách ra 2 cục gạch ném vào cửa kính phòng bảo vệ làm cửa kính bị vỡ. Sau khi bị nhân viên bảo vệ và quần chúng phát hiện truy đuổi, Lắm rút dao hăm doạ và chạy vào các quán ven đường lấy ly ném lại. Khi chạy đến trước sân vận động Thống Nhất, phường 6, quận 10 Lắm bị lực lượng CA cùng dân phòng phường 6 và 7, quận 10 chặn bắt. Chống cự điên cuồng, Lắm dùng dao Thái Lan đâm trúng bụng một người gây thương tích nặng phải đưa đi cấp cứu. CA cùng dân phòng địa phương đã bắt giữ Lắm, thu 1 dao Thái Lan. Qua xác minh được biết, Lắm có tiền án 3 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, bị CA quận 8 bắt ngày 04/02/2002. P.V.T