- Năm mũi nhọn tạo đột phá
Trong những năm vừa qua, với nỗ lực lớn lao, sáng tạo, cần cù trong lao động của người nông dân, cùng sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Thế nhưng, hiện tại cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề hóc búa đòi hỏi phải có bước đột phá mới thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao mức sống của người nông dân trong đó vai trò của khoa học kỹ thuật (KHKT) cần được coi trọng và có những chính sách đúng đắn.
Bài học từ chính Việt Nam
Nông nghiệp của nước ta trong những năm vừa qua đạt được sự tăng trưởng tương đối cao, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu ra nước ngoài. Chúng ta có nhiều mặt hàng xuất khẩu thuộc loại mạnh trên thế giới: gạo, cà phê, tiêu, điều, đồ gỗ, thủy sản… Bình quân trong 5 năm, tăng trưởng đạt 16,2%. Riêng trong năm 2007, ngành nông – lâm – hải sản đạt 12,7 tỷ đồng. Từ chỗ trước đây mỗi hecta mang lại giá trị 17tr/ha thì đến nay con số này đã đạt 32tr/ha, trong đó Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là 38tr/ha. Riêng huyện Chợ Mới (An Giang) sau khi chuyển sang sản xuất hai vụ lúa một vụ mầu trên phạm vi cả huyện đã đạt được 92tr/ha.
Trong thành tựu chung đó, khoa học kỹ thuật (KHKT) chiếm một vị trí quan trọng. Thực tiễn sản xuất cho thấy đi sâu chuyển đổi cơ cấu, thâm canh trong nông nghiệp, áp dụng kỹ thuật mới về giống, chuyển đổi canh tác, áp dụng công nghệ sau thu hoạch… mang lại kết quả lớn, rõ ràng. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận thẳng thắn vào thực tế những giá trị đạt được trong nông nghiệp từ trước tới giờ chủ yếu là do khai thác tài nguyên từ đất đai, lao động. Giá trị mang lại từ KHKT chưa xứng đáng với tiềm năng vốn có.
Trong khi đó, tình hình hiện nay nảy sinh nhiều vấn đề mới. Đất dành cho sản xuất nông nghiệp đang bị thu hẹp, môi trường biến đổi gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, dịch bệnh trên gia súc, cây trồng phát triển liên tục gây tác hại rất lớn, lao động trẻ khỏe đang rút dần ra khỏi nông thôn. Biểu hiện rõ rệt nhất là năng suất và giá trị gia tăng trong nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần, từ 7,8% đến 4,7%. Trong khi đó, 68% giá trị thu nhập của người nông dân là từ nông nghiệp, với những hộ nghèo con số này là 87%. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp đảm bảo cho sản xuất tăng về giá trị, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nông dân, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững. Một câu hỏi lớn được đặt ra: cần làm gì để tạo ra bước đột phá tiếp theo trong nông nghiệp?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cần nhìn lại một số bước đột phá lớn tạo ra những bước ngoặt trong sản xuất nông nghiệp hơn 20 năm qua để rút ra bài học kinh nghiệm, giải quyết vấn đề hiện tại. Ở Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), chúng ta đã chuyển từ sản xuất hai vụ chiêm, mùa sang vụ sản xuất lúa mùa, vụ đông, vụ xuân đã tạo sự thay đổi hết sức cách mạng trong lĩnh vực KHKT. Sau thay đổi đó, vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, cung cấp lương thực, thực phẩm, việc làm cho nông dân. Kết quả là nó đã giải quyết vấn đề thiếu lương thực, tạo thêm thu nhập mới cho người nông dân. Nhiều tỉnh như Vĩnh Phú, Hưng Yên, Bắc Giang, Thanh Hóa có bước phát triển vượt bậc. Còn ở ĐBSCL – vùng lương thực cơ bản của cả nước, việc đẩy mạnh ngọt hóa kênh mương nội đồng đã làm tăng diện tích đất sản xuất, qua đó nâng cao năng suất lúa gạo. Thành công của vựa lúa ĐBSCL không chỉ đảm bảo lương thực cho cả vùng, đảm bảo dự trữ, an ninh lương thực cho quốc gia, tham gia chính trong việc xuất khẩu lương thực mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở miền Trung – Tây Nguyên chuyển sang sản xuất chuyên canh, phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Tây Nguyên đã thay đổi từ sản xuất tự cấp, tự túc, chuyển sang sản xuất lớn về cà phê và cao su, có thứ hạng trên thế giới về xuất khẩu.
Những bài học trên cho thấy Chúng ta vẫn thường trao đổi hợp tác, học hỏi kinh nghiệm sản xuất từ nước ngoài, nhưng có những vấn đề chỉ có thể xảy ra ở Việt Nam và chỉ có chính ở Việt Nam mới có lời giải.
Khoa học kỹ thuật là then chốt
Nhìn sâu vào nguyên nhân của các bước đột phá nêu trên, chúng ta thấy nếu như Khoán 10 là điều kiện cần, thể hiện sự đột phá về mặt xã hội khi giao cho người nông dân quản lý đất đai lâu dài để họ có thể yên tâm đầu tư, chăm lo cho sản xuất thì KHKT là điều kiện đủ, có vai trò hết sức then chốt. Ở cả ba vùng ĐBSH, ĐBSCL, miền Trung – Tây Nguyên, KHKT như một chìa khóa chung giải quyết nhiều vấn đề. Việc tạo cơ sở thủy lợi đã đảm bảo tưới vũng chắc cho ba vụ ở ĐBSH, mở mang diện tích lúa ở ĐBSCL, và giải quyết vấn đề nước tưới cho cà phê Tây Nguyên. Các giống cây trồng ngắn ngày, năng suất cao, kháng rầy ở ĐBSCL đảm bảo thắng lợi cho các vụ mùa. Trong khi đó, các loại giống ngô, đậu mới phát triển phục vụ cho vụ đông ở ĐBSH. Ở Tây Nguyên, loại cà phê catimo vừa khắc phục nhược điểm về năng suất so với cà phê vối về năng suất vừa bổ sung chất lượng cho loại cà phê chè là một điển hình trong kỹ thuật tạo giống. Bên cạnh đó, phát triển công nghệ sau thu hoạch (thu hoạch, sấy, bảo quản, xay sát… ) tạo ra nông sản có chất lượng cao hơn, mang lại giá trị kinh tế nhiều hơn. Nếu như trước đây, cà phê xuất khẩu thô, chất lượng thấp thì nay đã được chế biến ướt, sấy, bảo quản, chế biến theo chiều sâu. Gần đây, việc áp dụng công nghệ cao ở Lâm Đồng trong sản xuất hoa xuất khẩu đã tạo ra giá trị 1,2 tỷ/ha. Những thuận lợi mang lại từ KHKT cùng sự hỗ trợ của Nhà nước, sự tích lũy của nông dân ngày càng tăng với thị trường ngày càng rộng lớn hơn đã tạo ra bước đột phá mới.
Tuy nhiên những bài học về sự đột phá ba vụ ở ĐBSH và ĐBSCL, cà phê Tây Nguyên, công nghệ cao ở Lâm Đồng nêu chỉ là đột phá ở từng điểm. Thực tế, giá trị sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn thấp, mới chỉ dừng ở con số 2000USD/ha, trong khi các nước trong khu vực đã đạt tới 60.000USD/ha, con số này ở Hà Lan là 1trUSD/ha. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Trong đó, từ phía KHKT là do nông nghiệp nước ta mới khai thác chủ yếu về thủy lợi, ở một chừng mực nào đó với một số giống cây lúa, các cây, con khác chưa có nhiều bước tiến mới, việc canh tác vẫn dựa trên lao động truyền thống, hàm lượng công nghệ còn thấp, trình độ công nghiệp chênh lệch từ đồng bằng lên miền núi còn cao. Chúng ta muốn có một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững cần phải chọn KHKT làm mũi nhọn đột phá. Trong chương trình tam nông sắp tới cần xác định mục tiêu thực hiện cho bằng được nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nông dân. Cùng với đó, phải tổ chức lại sản xuất để mở đường cho việc đưa công nghệ mới vào nông nghiệp. Hiện nay, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu diễn ra trên quy mô nhỏ, mỗi hộ nông dân canh tác trên 7-8 thửa ruộng. Tình trạng sản xuất đó không phù hợp với sản xuất hàng hóa lớn và làm cản trở việc đưa công nghệ vào nông nghiệp. Muốn đưa công nghệ vào nông nghiệp cần phải tiến hành sản xuất tập trung. Để thay đổi cục diện sản xuất manh mún, nhỏ lẽ cần tiến hành theo ba con đường: tạo điều kiện cho nông dân tích lũy vốn; kích thích và hỗ trợ nông dân dồn điền đổi thửa tiến hành chuyển nhượng, thuê đất đai làm sao cho mỗi đơn vị sản xuất nông nghiệp có được 6000m2 (ở ĐBSH và 9000m2 ở ĐBSCL) đất canh tác; tổ chức hợp tác xã thực hiện sản xuất liền vùng.
Hiện giờ, kinh phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp mới chỉ chiếm 1/3 GDP mà lại mới chỉ tập trung vào thủy lợi, giống, trong khi máy công nông, gặt đập liên hợp, chế biến chè… hoàn toàn là nhập khẩu. Vì vậy, sắp tới cần chuyển đổi cơ cấu đầu tư, trang thiết bị máy móc, nâng cao chất lượng lao động, năng suất lao động, giảm sự cực nhọc của nông dân và đặc biệt là phải dạy nghề cho nông dân.
Đưa khoa học kỹ thuật đi vào nông nghiệp bằng cách nào?
Từng làm việc lâu năm trong ngành và giữ những chức vụ cao trong Bộ NN&PTNT, ông Lê Huy Ngọ đã từng trực tiếp tham gia xây dựng chương trình về giống cây trồng vật nuôi, chương trình về nâng cao tiềm lực các viện-trường, tổ chức mạng lưới khuyến nông… Từ những thực tế trong công tác của mình, ông Lê Huy Ngọ đã đưa ra năm biện pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
1. Lựa chọn mục tiêu: Theo dõi các kỳ họp Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội thắc mắc việc đầu tư cho nông nghiệp còn chưa cao, nhưng vì sao chưa rải ngân hết. Sự chậm trễ một phần là do năng lực tổ chức không kịp với thực tiễn nhưng một phần là do cần lựa chọn mục tiêu phù hợp. Những thành tựu của nông nghiệp trong thời gian qua đã chứng tỏ sự lựa chọn đầu tư cho thủy lợi, công nghệ giống, công nghệ sau thu hoạch là một hướng đi đúng đắn. Nhưng xét cho cùng, cả hai hướng sáng tạo công nghệ mới và đi tắt đón đầu tiếp thu tri thức nhân loại chỉ là bước đầu, bước quan trọng là phải đào tạo nghề cho nông dân để đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, mục tiêu sắp tới là cần làm tốt công tác khuyến nông để người nông dân có đủ kiến thức tiếp nhận thành quả nghiên cứu khoa học. Hiện nay, công tác khuyến nông ở nước ta đang dừng ở mức đầu tư hết sức nhỏ bé, chỉ vào khoảng 15 – 16 tỷ/năm, việc khuyến nông mới chỉ được triển khai những mô hình nhỏ trong phạm vi hẹp. Điều cần làm là mở rộng hệ thống khuyến nông thành một mạng lưới Không chỉ có khuyến nông của Nhà nước mà còn phát triển thêm khuyến nông của Viện-trường, doanh nghiệp, tư nhân, đẩy mạnh hợp tác quốc tế… Mạng lưới này sẽ thực hiện công việc phân bổ, điều tiết và tư vấn cho hoạt động sản xuất cho nông dân.
2. Tổ chức hoạt động nghiên cứu
Khác với môi trường hoạt động của công nghiệp, sản xuất nông nghiệp có đặc điểm gắn liền với môi trường sinh thái và điều kiện tự nhiên. Vì vậy, hệ thống các viện nghiên cứu cần tổ chức thành hệ thống theo các cấp: Viện vùng (Viện lúa ĐBSCL, Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ…); Viện địa phương; Viện cây con chuyên đề nghiên cứu từng sản phẩm cụ thể (chè, cây ăn quả, chăn nuôi…); ngoài ra cũng nên khuyến khích thành lập các viện tư nhân.
Trong thời gian còn công tác, ông Lê Huy Ngọ đã có điều kiện đi tới thăm các viện nghiên cứu nông nghiệp trên khắp cả nước. Cảm nhận của cá nhân ông là thấy các cán bộ ở những viện này chưa được đối xử xứng đáng với tầm vóc công việc. Ông nói, “thấy nhiều cán bộ nông nghiệp lam lũ như nông dân, tự trong lòng mình cảm thấy có lỗi với anh em làm khoa học”. Chúng ta đã có một bài học lớn về việc sử dụng nhân tài, đó là trường hợp của GS Lương Định Của. Chỉ cần Nhà nước hỗ trợ lập một viện nghiên cứu ở Hải Dương, GS Của đã phát huy và cống hiến hết tài năng của mình tạo ra các giống cây mà ngày nay đi đâu người ta cũng nói tới “giống lúa bác Của”, “giống khoai bác Của”…
3. Chọn mặt gửi vàng
Thời gian gân đây, việc lựa chọn đầu tư được tiến hành theo phương pháp đấu thầu và nhận thầu. Đấu thầu là một sự tiến bộ thế những các tiêu chí khi tiến hành đấu thầu cần được điều chỉnh phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học. Ở Bộ NN&PTNT đã xảy ra một trường hợp khi đầu thấu một dự án về CNSH, đơn vị trúng thầu không phải là viện chủ lực về CNSH mà là một tổ chức khác. Tổ chức này đã nhanh nhạy dựa vào các tiêu chí máy móc, phương tiện, năng lực quản lý… để giành gói thầu, sau đó lại thuê chính nhân lực ở Viện CNSH thực hiện công việc cho họ. Trong một dự án về khoa học, các tiêu chí đưa ra đấu thầu cần là công nghệ, đội ngũ nhân lực và thành tích khoa học.
4. Đánh giá kết quả
Từ trước tới giờ, đã có nhiều đề tài được xếp hạng ưu nhưng khả năng đưa vào thực tiễn sản xuất còn thấp. Có nhiều nguyên nhân như chưa đủ điều kiện kinh phí triển khai hay do trình độ sản xuất của bà con nông dân chưa đáp ứng nhưng để xảy ra tình trạng đó là lãng phí. Vì vậy, thiết nghĩ cần có sự đánh giá nghiêm túc tính thực tiễn của các đề tài nghiên cứu và nên để cho chính những người nông dân tham gia đóng góp ý kiến vào các đề tài phục vụ cho họ.
5. Tôn vinh
Những đóng góp của nông nghiệp cho nền kinh tế đất nước là không thể phủ nhận thế nhưng công sức của những cá nhân làm nên thành tích đó lại chưa có được sự ghi nhận xứng đáng. Hàng năm, trên các phương tiện truyền thông vẫn có những giải thưởng Sao Khuê, Sao vàng, Sao đỏ cho người làm kinh doanh, CNTT… nhưng chưa thấy có giải thưởng nào dành cho nguời làm nông nghiệp dù họ là nông dân hay cán bộ khoa học. Với các nhà khoa học vật chất là cần, nhưng sự tôn vinh còn quý giá hơn.