Phát biểu tại Lễ công bố Báo cáo phát triển thế giới 2008 diễn ra ngày 11/12, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển NNNT (IPSARD) cho rằng khu vực nông thôn ở Việt Nam đang rất dễ tổn thương trước tác động của toàn cầu hóa.
![]() |
| Đầu tư cho nông nghiệp chiếm 10% vốn đầu tư của Ngân sách. |
Theo ông Sơn, kinh tế nông thôn Việt Nam hiện đang phải chịu gánh nặng từ những thách thức thị trường do ảnh hưởng từ việc leo thang giá cả thế giới trong thời gian qua. “Lạm phát gia tăng, trong khi đó mức tăng nông sản không bù đắp nổi giá tăng nguyên liệu đầu vào. Nông thôn Việt Nam đang đuối sức. Người nông dân và cả ngành nông nghiệp, khu vực nông thôn đang trông đợi vào sự hỗ trợ của Nhà nước”.
Theo đánh giá của ông này thì nền nông nghiệp Việt Nam đang phát triển mà chưa chú ý đến vai trò của dịch vụ môi trường. Nguồn tài nguyên đất và nước của Việt Nam đang dần mất đi, trong khi đó theo xu hướng phát triển tương lai thì nguồn lực sẽ không được ưu tiên do chi phí ngày càng cao, thay vào đó con đường phát triển trong tương lai sẽ là khoa học công nghệ.
Chính sách về tam nông nông nghiệp - nông thôn - nông dân là vô cùng cần thiết. Đã đến lúc Việt Nam phải quan tâm đặc biệt đến tam nông về tất cả các mặt đào tạo, nâng cao nguôn nhân lực, xây dựng nông thôn mới và đặc biệt phải giảm dần sự cách biệt quá lớn quá bất bình đẳng hiện nay giữa nông thôn với thành thị, tạo ra một thiết chế pháp lý và trách nhiệm của toàn bộ cộng đồng đối với nông thôn, ông Sơn phân tích.
“Đổi mới thể chế là bước đột phá trong kế hoạch Tam nông sắp tới của Việt Nam”, ông Sơn nhấn mạnh.
| Theo thống kê, 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp, hàng năm đóng góp 20% GDP toàn quốc, nhưng đầu tư cho nông nghiệp chỉ khoảng 10% tổng vốn đầu tư của Nhà nước và 80% số đó lại tập trung vào thuỷ lợi. |
Ông Sơn cho biết, tại Việt Nam, mức độ bảo hộ nông nghiệp vốn đã thấp, đầu tư công cũng hạn chế do đó chưa tạo ra được nhiều những thay đổi. Hỗ trợ cung cấp hàng hóa công ích của Việt Nam còn hạn chế. Theo báo cáo phát triển của Ngân hàng thế giới, hiện nay, Việt Nam chỉ đầu tư 0,13% GDP nông nghiệp cho nghiên cứu và phát triển trong khi mức trung bình ở các nước có nền kinh tế phụ thuộc nông nghiệp là 4%.
Ông Martin Rama, Kinh tế gia trưởng Ngân hàng Thế giới đặt câu hỏi, Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn, vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại nữa không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông thôn và các dân tộc thiểu số là cần thiết để không ai bị bỏ rơi.
Bản báo cáo cũng cho rằng nông nghiệp có thể là con đường thoát đói nghèo cho hàng triệu người ở khu vực nông thôn mà nếu không có thì họ sẽ bị tụt hậu trong các nền kinh tế đang chuyển đổi. Một cách xóa đói nghèo là thông qua các cuộc cách mạng nông nghiệp giá trị cao.
Theo báo cáo, ngành nông nghiệp cần phải được phát triển bền vững hơn đồng thời trở thành nơi cung cấp các dịch vụ môi trường. “Điều cần làm lúc này không phải là kìm hãm sự phát triển nông nghiệp mà là tìm kiếm các hệ thống sản xuất bền vững hơn và tăng cường khả năng cung cấp các dịch vụ môi trường của ngành nông nghiệp”, ông Byerlee, đồng tác giả bản báo cáo phát triển cho biết.
Tại các quốc gia đang chuyển đổi, trọng tâm chính của nông nghiệp cho phát triển là thu hẹp chênh lệch thu nhập nông thôn – thành thị và giảm nghèo nông thôn trong khi tránh cái bẫy của trợ cấp và bảo hộ những thách thức không được đề cập đúng mức.
Ông Martin Rama cho rằng, một trong những lĩnh vực quan trọng trong tương lai Việt Nam nên chú trọng là cải cách thể chế bằng cách xây dựng các hiệp hội để quản lý tài nguyên tốt hơn. Đồng thời cần cải cách thể chế một cách tham vọng hơn.
Ông Derek Byerlee nhấn mạnh, “Các nền kinh tế đang chuyển đổi, bao gồm Việt Nam, phải chuyển từ cách mạng xanh sang một nền nông nghiệp mới có giá trị cao vì thu nhập đô thị tăng và nhu cầu đối với các sản phẩm có giá trị cao ở thành phố đang là động cơ tăng trưởng cho nông nghiệp và giảm nghèo”.
Báo cáo phát triển thế giới cũng đã hé lộ những chỉ dẫn cho các nước một lộ trình mà ngành nông nghiệp nên theo đó là việc tăng cường bảo hộ và trợ cấp cho nông nghiệp ở các nước và những cơ hội mà nông nghiệp và phi nông nghiệp đem lại.
Minh Yến – Xuân Thắng
Nhu cầu tăng trưởng Những người nông dân ở ngoại ô Shangmatai, cách Bắc Kinh khoảng 90km về phía Đông Nam, gần thành phố cảng Thiên Tân, đang hồi hộp chờ đợi cuộc cải cách đất đai. Những người nông dân này cho biết, chính quyền địa phương đã thu giữ đất của họ để xây một cái hồ nhân tạo nhằm thu hút khách du lịch. Họ không nhận được khoản đền bù nào. Cuối năm ngoái, các luật sư và học giả ở Bắc Kinh trình vụ việc tranh chấp của họ lên các quan chức, cùng với rất nhiều vụ việc khác, như một lý do để nông dân có quyền sở hữu rõ ràng hơn. “Nông dân muốn sửa lại quyền sở hữu đất đai thuộc về chúng tôi”, một tuyên bố do 17 nông dân ở Shangmatai ký vào hồi tháng 3. Đó cũng là nguyện vọng của trên 700 triệu nông dân Trung Quốc (gần 60% dân số Trung Quốc sống ở nông thôn). Kể từ khi các công xã bị phá vỡ ba thập niên trước, các hộ nông dân được hưởng quyền dùng đất trong thời hạn 30 năm. Thời hạn đó đã kết thúc. Đời sống nông dân Trung Quốc có nhiều bước nhảy vọt, nhưng nhu cầu hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cách tiếp cận mới. Với những mảnh ruộng manh mún, khoảng 0,67 ha, nhiều hộ dân đã tìm cách gộp lại để mở rộng sản xuất. Hàng triệu nông dân ra thành phố kiếm việc. Ruộng đồng hoang hóa. Nông dân khó có thể làm ăn lớn khi không có quyền sở hữu hay sử dụng chính thức về mặt luật pháp. Đất nông nghiệp vẫn thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy nhiên, người dân ở thành thị có thể mua bán đất như một tài sản. Một trong những vấn đề gây “bức xúc” khác là các quan chức địa phương và giới thương nhân thường cấu kết để chiếm đất nông nghiệp, xây cất nhà cửa hoặc biến thành khu công nghiệp. Bởi thế, nông thôn Trung Quốc ít khi yên bình. Biểu tình. Gây rối. Kiện cáo. Bạo lực. Theo số liệu chính thức của Trung Quốc, có ít nhất 74.000 vụ “khiếu kiện tập thể” của nông dân Trung Quốc hồi năm 2004, thu hút 3,7 triệu nông dân tham gia. Con số này tăng lên 87.000 vụ trong năm 2005, và năm 2006 là 90.000 vụ. Theo ông Hongyuan, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc: “Sự vi phạm quyền đất đai của người nông dân diễn ra thường xuyên khi chính quyền địa phương quyết định thay cho nông dân mà không để họ tự quyết định số phận của mình. Vì vậy, Chính phủ phải cải cách chính sách ruộng đất để bảo vệ đầy đủ quyền lợi của nông dân”. Đột phá “Một bước tiến lớn, có ảnh hưởng sâu rộng”, tờ Nhân dân Nhật báo viết về văn kiện nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông thôn của Hội nghị Trung ương 3, khoá 17, Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chi tiết của chính sách chưa được tiết lộ, song, chủ trương này phải được Quốc hội thể chế hóa thành luật trước khi được ban hành và thực thi. Điểm cốt lõi của chính sách mới là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho những nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp, miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng. Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố “quyền sử dụng đất” để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp. Việc nông dân được phép bán đất sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại quy mô lớn với công nghệ canh tác hiện đại. Với những nông dân muốn chuyển ra thành thị sinh sống, chính sách mới sẽ cho họ bán đất để ra thành phố với một khoản vốn khởi nghiệp. Ngoài ra, một hệ thống cơ quan hành chính mới, chuyên về quản lý đất nông nghiệp, cũng sẽ được thành lập. Tuy “nền tảng cơ bản của sở hữu tập thể đối với đất nông nghiệp vẫn không thay đổi”, như khẳng định của truyền thông Trung Quốc, nhưng chính sách này đã góp phần xoa dịu sự phẫn nộ của nông dân Trung Quốc do tình trạng tham nhũng ở nông thôn và sự cách biệt quá lớn về thu nhập giữa nông thôn với thành thị. Sử gia Zhang Lifan, nguyên là nhà nghiên cứu thuộc Viện xã hội Trung Quốc (CASS) nói: “Từ góc độ lịch sử, sự tồn vong của mỗi triều đại đều liên quan đến nông dân và đất đai. Chính sách này sẽ có lợi cho sự ổn định nông thôn và giành được trái tim nông dân”. Con dao hai lưỡi Nhiều học giả Trung Quốc cảnh báo, chính sách mới này có thể là con dao hai lưỡi. “Các biện pháp vừa được thông qua được các nhà kinh tế cho là bước đột phá lớn trong cải cách ruộng đất do nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình khởi xướng 30 năm trước, đem lại cho nông dân cơ hội tiến hành quản lý đất trên quy mô lớn và khởi dựng doanh nghiệp mới”, Tân Hoa Xã viết. Những người ủng hộ cho rằng, nếu thực thi nghiêm túc và có hiệu quả, chính sách này sẽ tạo thuận lợi cho công cuộc “tích tụ đất nông nghiệp”, hình thành những nông trại sản xuất lớn. Mô hình này có thể giúp gia tăng sản lượng lương thực, bảo đảm an ninh lương thực và giúp nông nghiệp Trung Quốc cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Giáo sư Xu Xinglin thuộc khoa Kinh tế, Trường Đảng Trung ương cho rằng “bước đột phá này là cần thiết. Nó đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và đô thị hóa trong giai đoạn hiện nay”. Trong khi đó, nhiều học giả Trung Quốc cảnh báo cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng. Asia Times Online lập luận: “Nhiều nông dân có thể bán đất để lấy tiền. Họ có thể bắt đầu kinh doanh nhỏ lẻ hoặc chuyển đến sống ở thành phố. Điều gì sẽ xảy ra nếu họ thua lỗ hay không kiếm được việc ở thành phố?”. Nhiều nhà phân tích cho rằng kinh tế Trung Quốc chưa đủ mạnh để “hấp thụ” hàng chục triệu nông dân bán đất, rồi đổ vào thành phố kiếm việc làm hàng năm. Mặc dù có nhiều hạn chế, nhưng việc phân bổ ruộng đất đến gia đình nông dân có ưu điểm là bảo đảm cho mỗi gia đình một phương tiện sinh sống tối thiểu. Theo các học giả, để tiến hành cải cách đất nông nghiệp, Trung Quốc cũng phải thay đổi các hệ thống xã hội khác. Chẳng hạn, Trung Quốc cần cải cách hệ thống đăng ký hộ khẩu, an sinh xã hội, bảo hiểm để những nông dân di cư ra thành phố được chấp nhận như những cư dân đô thị và được hưởng sự đối xử công bằng và những quyền lợi tối thiểu. Những biện pháp trên không được thực hiện, những nông dân mất đất có thể trở thành mối đe dọa đối với sự ổn định xã hội của đất nước. Năm 1950: Chuyển từ chế độ sở hữu đất đai phong kiến sang chế độ nông dân sở hữu đất đai, phân phối theo sức lao động. Năm 1953 - 1956: Cải tạo nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, chuyển từ chế độ nông dân sở hữu đất đai sang hợp tác xã, phân phối theo chế độ bình quân. Năm 1958 - 1977: Thực hiện chế độ hợp tác xã quy mô lớn, phân phối theo chế độ bình quân. Năm 1978 - 1998: Chuyển từ hợp tác xã sang chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, phân phối theo sức lao động. Năm 1999: Làng Tiểu Cang, Tỉnh An Huy thực hiện thí điểm chuyển nhượng sở hữu đất đai tập thể. Năm 2001: Nghiên cứu cải cách chế độ chuyển nhượng quyền kinh doanh đất đai. (Nguồn: wikipedia.org) Mai Thảo (Tổng hợp từ Economist, Asia Times, NYT, Xinhua News…)
Chính sách nông thôn mới ở Trung Quốc Khuyến nông = Tăng quyền
Dự án này sẽ được thực hiện trong thời gian từ tháng 2/2009 đến 7/2010 ở các tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh. Dự án sẽ cung cấp 705 máy tính cho 99 điểm truy cập viễn thông công cộng ở những bưu điện văn hóa xã và thư viện tỉnh, huyện, thư viện các trường học, bệnh viện, UBND xã... Tất cả số máy này sẽ được kết nối Internet. Đồng thời, dự án cũng tiến hành đào tạo cho cán bộ quản lý cũng như đào tạo kỹ năng sử dụng máy tính, truy cập Internet, cách khai thác thông tin cho người dân nông thôn để họ có thể khai thác những thông tin hữu ích nằm phục vụ đời sống và sản suất. Đại diện Quỹ Bill & Melinda Gates, bà Deborah Jacobs, cho biết Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á nhận được sự viện trợ của quỹ này về viễn thông công ích.












