.
Khe Lim Đại Lộc
Tiếp giáp với dãy Trường Sơn cao ngất hùng vĩ, Đại Lộc còn có nhiều đồi, sông, hồ, khe, suối và thác nước thiên nhiên, phong cảnh hữu tình, thơ mộng, yên lặng và trong lành, đã trở thành điểm đến cho du khách trong và ngoài nước. Đại Lộc đang trở thành điểm du lịch sinh thái đặc biệt tại Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 48 năm ngày Du lịch Việt Nam (9/7/1960 - 9/7/2008) Ủy ban Nhân dân huyện Đại Lộc tổ chức gặp mặt các đơn vị quản lý và kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện và các đơn vị lữ hành của tỉnh Quảng Nam nhằm “hiến kế ” để phát triển du lịch
Huyện Đại Lộc giáp với thành phố Đà Nẵng, nằm trên trục đường 14B từ Đà Nẵng đến Đường Hồ Chí Minh chạy qua các danh thắng của Đại Lộc: Suối Mơ, Khe Lim, Bằng Am, suối nước nóng Thái Sơn...từ Đại Lộc theo đường 14B đến thác Grăng, thủy điện A Vương, cửa khẩu Đắc Ốc (huyện Nam Giang) qua Lào. Đại Lộc được hai dòng sông Thu Bồn và Vu Gia tắm mát vào mùa hè, ban tặng phù sa vào mùa mưa, thuận lợi cho việc giao lưu lên miền ngược đến Trung Phước, Nông Sơn, làng quê Đại Bình, Hòn Kẽm Đá Dừng... hoặc xuôi về biển với Cửa Đại (Hội An). Qua gần 7 tháng năm 2008 đã đón được 30.000 du khách (bằng cả năm 2007) mà chủ yếu là khách nội địa.
Suối Mơ, Khe Lim, Khe Tân, suối nước nóng Thái Sơn đã được các doanh nghiệp đầu tư khai thác nhưng còn “cò con”, chưa được quy hoạch, đường vào các điểm du lịch còn khó khăn, cả huyện chưa có được một khách sạn.
Theo quốc lộ 14B, khoảng Km 46, rẽ tay phải vào một cánh rừng nguyên sinh thuộc thôn An Định, xã Đại Đồng, Đại Lộc – Quảng Nam), là đến khu du lịch sinh thái Suối Mơ
Tại đây, bạn bắt gặp một “quần thể” có nhiều đoạn suối đá đẹp, nằm ven cánh rừng “đại ngàn” rất hoang vu, tịch mịch… mà phong cảnh rất hữu tình. Dòng suối trong xanh chảy qua những khối đá lớn có nhỏ có, màu đen, mốc với thiên hình vạn trạng. Đi men theo những lối mòn bên ghềnh đá lên cao khoảng 100m, gặp thác Gieo với dòng nước tung bọt trắng xoá đổ xuống một cái ao sâu nước xanh in cả trời mây bàng bạc, làn “bụi nước” toả lên trên những tán cây, tạo nên chiếc cầu vồng với nhiều màu sắc lung linh huyền ảo. Nơi đây du khách tha hồ tắm táp, ngâm mình, thả lỏng các cơ bắp hai bên bờ suối, thi thoảng có những khoảng trống gần hoặc xa dòng nước, dưới tán cây xanh mát. Bạn có thể nằm, ngồi nghỉ chân, ăn uống, thư giãn... Bạn có thể mang theo thức ăn, nước uống hoặc muốn thưởng thức những món ăn đặc sản, hấp dẫn ở quầy hàng dịch vụ giá cả cũng như ở đồng bằng. Qua quá trình bơi, lội – bụng đói – bạn sẽ ăn ngon hơn.
Càng đi lên xa hơn, ở phía thượng nguồn, bạn bắt gặp những thác lớn từ những cánh rừng nguyên sinh của các ngọn núi cao vòi vọi của dãy Trường Sơn hùng vĩ đổ về mang theo những đoạn thác trắng xoá, có đoạn làn nước trong xanh, yên tĩnh; có đoạn nước xô vào đá, tung bọt trắng xoá. Hai bên bờ xuất hiện những ghềnh đá màu vàng, xanh với những hình thù kỳ bí, có tảng đá lớn cỡ ngôi nhà mà mặt trên phẳng và rộng
Ông Lê Hoàng Hà - Trung tâm Lữ hành Quốc tế Hội An đề nghị tỉnh, huyện cần kêu gọi đầu tư xây dựng khu sinh thái Bằng Am - Khe Lim thành khu du lịch nổi trội hơn để làm điểm hút khách và từ đó lan tỏa các điểm xung quanh. Đại diện Công ty Lữ hành Lê Nguyễn “hiến kế”: xây dựng Khe Lim- Bằng Am thành điểm tham quan nằm trên tuyến du lịch: Hội An - Khe Lim - Bằng Am - Nông trường chè Quyết Thắng - Làng Bhờ Hôồng (Nam Giang). Giám đốc Nguyễn Thị Nguyên - Công ty TNHH Thái Sơn - đề xuất tour du lịch: cửa Đắc Ốc - thác Grăng - thủy điện A Vương (Nam Giang) - suối nước nóng Thái Sơn- Khe Lim- Bằng Am kết thúc tại Hội An, trước mắt Nhà nước cần đầu tư làm đường từ quốc lộ 14B và suối Thái Sơn.
Lãnh đạo huyện Đại Lộc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam đã “lĩnh hội” các hiến kế hay và sẽ cùng với các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác quy hoạch thiết kế nhanh chóng đưa vào khởi công đường vào khu sinh thái Bằng Am được ví như “cổng trời” Đại Lộc; trong lành, lộng gió như Bà Nà.
Nhân dịp này, Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại huyện Đại Lộc khởi công đường vào Khe Lim với tổng số vốn đầu tư gần 4 tỷ, sẽ hoàn thành sau 9 tháng thi công
Trẻ em múa hát tại thị trấn Ái Nghĩa, Đại Lộc
Đại sứ Lessard của Canada đang chuyện trò với các em nhỏ tại trường mầm non xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc
Ambassador Lessard with children at the new kindergarten in Dai Hoa Commune, Dai Loc District, Quang Nam Province
Ai qua Đại Lãnh... |
||
|
Theo Quốc lộ 14B, chúng tôi tới địa phận xã Đại Lãnh (Đại Lộc, Quảng Nam), nơi có di tích trận quyết chiến Thượng Đức nổi tiếng. Bên dòng sông Vu Gia là xóm mạc trù phú. Đường thôn, ngõ xóm bằng bê tông, dằng dịt như bàn cờ. Những con người hồn hậu có thời trực tiếp cầm súng đánh Mỹ xâm lược, đêm đêm vắn thừng, kết cáp từ dây rừng, đóng bè mảng từ cây rừng để đưa pháo lớn dọc sông Con lên các điểm cao, trút lửa xuống cứ điểm Thượng Đức cách đây 35 năm, nay đang “dệt” nên bức tranh quê muôn màu tươi sắc. Trên tổng diện tích canh tác hơn 600ha, lúa, ngô, đậu phụ, dưa hấu, sắn, bông vải… mùa nào thức ấy đua nhau phát triển, kéo theo đàn trâu bò, lợn gà, dê, cá… không ngừng sinh sôi. Rừng Đại Lãnh với sự kết hợp giữa ưu thế tự nhiên và tình yêu rừng của con người đang vươn cành xanh lá. Đi giữa bạt ngàn xanh của cây Dó bầu xen lẫn cây lấy quả thực phẩm, lòng xôn xao hồi tưởng một thời “Rừng che quân đội, rừng vây quân thù”.
Năm 2008 tổng giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp của xã đạt xấp xỉ 100,7% kế hoạch. Kết quả đó là từ lòng quyết tâm hiện thực hóa Nghị quyết Đảng bộ xã về chuyển đổi đất đai, cây trồng, vật nuôi một cách hiệu quả. Cùng với nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ cũng có những tiến bộ vượt bậc, đưa tổng sản phẩm xã hội đạt hơn 102% chỉ tiêu huyện giao, tốc độ tăng trưởng 13,6%. Kinh tế trên đà phát triển tạo điều kiện để Đại Lãnh tiến triển đáng kể về đời sống xã hội. Cả 10 thôn đều đạt tiêu chuẩn đơn vị văn hóa, trong đó có 2 “thôn văn hóa” cấp tỉnh và 3 “thôn văn hóa” cấp huyện. Bên cạnh đó là những họ tộc văn hóa. Công tác phổ cập Tung Học Cơ Sỡ đạt hơn 90% (đúng độ tuổi: 83%).
Rời những thôn xóm, chúng tôi tới khu Trung tâm chính trị-văn hóa sầm uất nằm cạnh con đường “ruột” của xã. Học sinh tan trường, ríu rít tỏa ra các ngả làm động lòng khách tham quan với những suy nghĩ về trận chiến Thượng Đức xưa - Máu và nước mắt đã làm nên những mùa trái sai, quả ngọt hôm nay. Thượng Đức đây rồi. Ba bề núi cao dốc đứng. Phía đông bằng phẳng – nơi hợp lưu của sông Con và sông Cái tạo thành sông Vu Gia. Dòng nước màu đất sét như vẫn diết da những kỷ niệm bi hùng. Đứng trên nền bê tông sân bay cũ nhìn ra bốn hướng, lội vào giao thông hào với các lô cốt nửa chìm nửa nổi và
Tạm biệt Thượng Đức - Đại Lãnh, lòng lại khắc khoải nghĩ tới một sự chăm lo bảo tồn di tích lịch sử. Tuy nhiên, di tích chưa được quan tâm đúng mức. Toàn bộ di tích Thượng Đức mang vẻ hoang vu. Bức tượng đài chiến thắng mỏng mảnh như một cái cây cằn khô giữa bãi đất trống. Chí ít cũng nên có tường bao quanh, dựng bia cẩn thận, dọn sạch cỏ hoang cây dại, bảo quản hệ thống hầm hào. Cần xây một lối đi lên trung tâm di tích bằng những bậc xi măng… Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG
Suối Mơ
Theo quốc lộ 14B, khoảng Km 46, rẽ tay phải vào một cánh rừng nguyên sinh thuộc thôn An Định, xã Đại Đồng, Đại Lộc – Quảng Nam), là đến khu du lịch sinh thái Suối Mơ Tại đây, bạn bắt gặp một “quần thể” có nhiều đoạn suối đá đẹp, nằm ven cánh rừng “đại ngàn” rất hoang vu, tịch mịch… mà phong cảnh rất hữu tình. Dòng suối trong xanh chảy qua những khối đá lớn có nhỏ có, màu đen, mốc với thiên hình vạn trạng. Đi men theo những lối mòn bên ghềnh đá lên cao khoảng 100m, gặp thác Gieo với dòng nước tung bọt trắng xoá đổ xuống một cái ao sâu nước xanh in cả trời mây bàng bạc, làn “bụi nước” toả lên trên những tán cây, tạo nên chiếc cầu vồng với nhiều màu sắc lung linh huyền ảo. Nơi đây du khách tha hồ tắm táp, ngâm mình, thả lỏng các cơ bắp hai bên bờ suối, thi thoảng có những khoảng trống gần hoặc xa dòng nước, dưới tán cây xanh mát. Bạn có thể nằm, ngồi nghỉ chân, ăn uống, thư giãn... Bạn có thể mang theo thức ăn, nước uống hoặc muốn thưởng thức những món ăn đặc sản, hấp dẫn ở quầy hàng dịch vụ giá cả cũng như ở đồng bằng. Qua quá trình bơi, lội – bụng đói – bạn sẽ ăn ngon hơn. Càng đi lên xa hơn, ở phía thượng nguồn, bạn bắt gặp những thác lớn từ những cánh rừng nguyên sinh của các ngọn núi cao vòi vọi của dãy Trường Sơn hùng vĩ đổ về mang theo những đoạn thác trắng xoá, có đoạn làn nước trong xanh, yên tĩnh; có đoạn nước xô vào đá, tung bọt trắng xoá. Hai bên bờ xuất hiện những ghềnh đá màu vàng, xanh với những hình thù kỳ bí, có tảng đá lớn cỡ ngôi nhà mà mặt trên phẳng và rộng.
Từ thị trấn Ái Nghĩa - huyện Đại Lộc, theo con đường quốc lộ 14B khoảng 20 km về phía tây, du khách sẽ đến với thắng cảnh Khe Lim. Nhìn từ xa, thác nước như bức rèm thưa lúc ẩn, lúc hiện giữa núi rừng bao la khiến du khách chợt nhớ đến thác Cam Ly của thành phố Đà Lạt mộng mơ. Từ trên đỉnh núi Am Thông, một dòng nước rộng khoảng 20 mét ngày đêm ầm ầm đổ xuống dòng suối với nhiều tảng đá lớn nhỏ nằm xếp chồng lên nhau, tạo thành nhiều thác nước tung bọt trắng xoá rồi âm thầm chảy ra con sông Vu Gia để xuôi về với biển. Dọc hai bên bờ suối có những cánh rừng nguyên sinh, những thảm thực vật quanh năm xanh tốt.Vị trí:Khe Lim nằm ở địa phận xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; cách thị trấn Ái Nghĩa khoảng 20km về phía tây nam. Ngày đêm nước ầm ầm đổ xuống dòng suối có nhiều tảng đá lớn nhỏ nằm xếp chồng lên nhau, tạo thành nhiều thác nước tung bọt trắng xoá rồi âm thầm chảy ra con sông Vu Gia để xuôi về với biển. Dọc hai bên bờ suối có những cánh rừng nguyên sinh, những thảm thực vật quanh năm xanh tốt.Cùng với dãy Hio - Hiu sừng sững ở phía nam và dãy đồi núi nhấp nhô phía tây bắc, tất cả tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Trên đỉnh thác nước ở Khe Lim vẫn còn dấu tích Chùa Am với những giai thoại dân gian huyền bí. Khe Lim thuộc địa bàn xã Đại Đồng - huyện Đại Lộc. Ðặc điểm: Khe Lim bắt nguồn từ khe chảy qua nhiều địa phận có nhiều cây lim (gỗ lim). Theo dân gian thì vùng Lộc Vĩnh có nhiều khe, suối, với nhiều tên gọi khác nhau, có thể theo nhiều địa danh hoặc do truyền thuyết mà khe, suối chảy qua như : khe Hoa -có nhiều hoa; khe Dâu - có nhiều dâu, nguồn Cha (giống đực) nguồn Mẹ(giống cái), hai cụm từ này ghép thành dòng chảy của một con sông. Và tên gọi KHE LIM bắt nguồn từ khe chảy qua nhiều địa phận có nhiều cây lim (gỗ lim) hoặc bắt nguồn từ một dòng chảy lớn. Khe Lim được bắt nguồn từ núi Am Thông, nằm trên đỉnh HIO-HIU có độ cao 882m so với mặt biển, có dòng nước cao ngất đổ xuống tạo thành nhiều tầng, bậc, chảy qua địa phận của hai thôn: thôn 8 và thôn Đông Phước gặp sông Cái, sông Vàng, từ đây hoà cùng sông Vu Gia xuôi về cửa Đại. Khe Lim đẹp không chỉ riêng ngọn nước từ trên cao đổ xuống mà cả toàn cảnh của nó nữa. Hai bên bờ suối là những cánh rừng nguyên sinh yên ả, thảm động thực vật phong phú bao la xanh thẳm, quanh năm có nhiều hoa, lan rừng toả ngát mùi hương, cùng dãy HIO- HIU sừng sững ở phía Nam, tạo nên một vẻ đẹp thơ mộng hữu tình. Khe Lim, vào những ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần hay mùa Xuân thường được nhiều du khách đến ngoạn cảnh. Đây có thể xem là một điểm du lịch lý tưởng cho một vùng trung du lý tuởng của Đại Lộc và Quảng Nam. Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
|
Mọc nhiều ở trong rừng Đại Lộc, Quảng Nam, loòng boong là một đặc sản của xứ Quảng. Mùa thu hoạch loòng boong vào các tháng 5-6-7 âm lịch. Đã thành lệ, mùa này người vùng cao Đại Lộc vào rừng, ai phát hiện được cây loòng boong nào thì là của người đó. Loòng boong có vị chua, thơm, ngọt lạ lùng.
Các bạn đã bao giờ thưởng thức hương vị trái loòng boong đất Quảng chưa? Nếu chưa, xin mời bạn làm một chuyến tham quan du lịch đến thăm Quảng Nam - vào dịp cuối hè sang thu - là mùa của trái loòng boong. Huyện vùng cao Đại Lộc là nơi sản xuất loại trái loòng boong nổi tiếng.
Trái loòng boong là một đặc sản của xứ Quảng. Nhiều người khẳng định rằng, chỉ ở Quảng Nam mới có trái loòng boong nổi tiếng.
Vào năm 1805, đích thân vua Gia Long hạ lệnh vào tháng 9 hằng năm, phải tiến quả nam trân (loòng boong). Đến triều Minh Mạng, quy định mỗi mùa trái chín, Quảng Nam phải cống sáu giỏ...
Thuở xưa, những vùng rừng núi có loòng boong đều thuộc sự quản lý của triều đình và đã trở thành những khu cấm địa.
Triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ đã có quy chế riêng đối với các khu rừng loòng boong. Mỗi khu vực đều có viên quan trông coi và có quyền huy động dân đinh địa phương ngày đêm thay phiên nhau canh giữ. Đến mùa trái chín, viên quan chọn lựa các chùm trái chín ngọt thơm ngon và đẹp nhất tiến về kinh để nhà vua thưởng thức.Bòn bon ra hoa vào tháng 4 âm lịch, từng chuỗi hoa mầu trắng xen vàng lấp lánh, thơm lừng trong gió. Ðến chừng tháng 7 bòn bon kết trái, đến tháng 9, 10 là thu hoạch. Mùa bòn bon chín chỉ kéo dài chừng một tháng. Khi chín trái bòn bon có mầu vàng nhạt như mỡ gà, nom rất đẹp. Quả có từng múi, mỗi múi mang một hột bên trong. Hạt bòn bon rất đắng nên khi ăn chỉ "nhấp nháy" để thưởng thức cái mùi vị thơm ngọt của bòn bon rồi nuốt luôn cả hột vì không tách riêng được múi với hạ
Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, trái loòng boong tập trung nhiều tại thượng nguồn sông Vu Gia, một nhánh của sông Thu Bồn. Nhưng ngon và nhiều phải kể đến vùng Đại Lộc:
Quế Sơn cau, mít mấy tầng
Thương loòng boong Đại Lộc, nhớ rượu cần Trà Mi
Không hiểu do chất đất hay khí hậu mà nói tới trái loòng boong, người Quảng đều cho rằng chỉ ở Đại Lộc mới có trái ngon. Hằng năm, vào khoảng các tháng 5-6-7 âm lịch là mùa thu hoạch loòng boong. Và dường như thành cái lệ từ bao đời ở miền cao, hễ ai đi rừng phát hiện được cây loòng boong nào thì thuộc quyền sở hữu của người đó.
Trong việc chọn mua trái ngon, người sành ăn chê loại lớn trái. Loại ngon trái vừa không lớn mà cũng không nhỏ, chỉ to bằng ngón tay cái, da mầu vàng nhạt, núm cuống căng tròn. Khi bóc lớp vỏ ngoài, bên trong lộ ra năm múi dính chặt lấy nhau mầu trắng trong, mọng nước, thơm lừng. Và lúc cắn vào một múi, cảm thấy một dòng nước ngọt lịm ngấm dần xuống tận cổ.
Trái loòng boong có nhiều tên gọi khác nhau như bòn bon, phụng quân, nam trân, dâu da...
Tương truyền rằng: Chúa Định Vương bị tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm Phú Xuân vào tháng giêng năm ất Dậu, đã bỏ chạy vào đất Quảng Nam rồi đặt con là Hoàng Tôn Vương làm thế tử, xưng là Đông Cung để trấn giữ đất Quảng Nam. Sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại phải lánh vào rừng. Giữa lúc đói mệt thì gặp được rừng cây loòng boong, bèn hái lấy trái, dùng móng tay bấm thử trước khi ăn. Thấy trái thơm ngọt lạ lùng và nhờ đó đã cứu được cơn đói, chúa bèn đặt tên cho trái là "nam trân", có nghĩa là món ăn quý ở phương nam. Mãi cho đến ngày nay, trái loòng boong vẫn còn mang dấu bấm móng tay rất rõ ràng...


Trái lòng boong Đại Lộc thơm ngon nổi tiếng thế giới
Ngày nay, du khách đến thăm đất Quảng vẫn thường được nghe nhắc đến trái loòng boong trong câu hát hò tâm tình, ý nhị:
Trái loòng boong trong tròn ngoài méo
Trái thầu dầu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói, ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng (XQ)
Ít nhất ở Đại Lộc hiện nay số cây mai cổ đang hiện diện không dưới 500 cây, mà mỗi cây đều là một kỳ tích, thể hiện tất cả những niềm đam mê, tâm huyết mà chủ nhân của nó đã đổ mồ hôi, lắm khi cả nước mắt mới có được.

Điều ít ai biết, ở Đại Lộc, Quảng Nam nghệ thuật Cổ Mai Hoa đến nay phát triển gần như đã là “đạo”...
Trong những năm trước, khi đất nước chuyển mình đổi mới, người dân Đại Lộc vốn nghèo trên vùng đất bị chiến tranh tàn phá ác liệt đã phải tìm kiếm cho mình những cách làm ăn mới. Từng nổi lên rất nhiều tấm gương vượt khó, nhiều nông dân sản xuất giỏi... Trong đó, cây hoa mai từng là đối tượng sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả cao.
Theo số liệu chưa đầy đủ, hiện nay có đến hàng mấy mươi người ở Đại Lộc chuyên tâm sưu tầm và chơi cây mai cổ, trong số đó không ít người đạt đến trình độ thượng thừa.
Không chỉ nắm vững các kỹ thuật, nghệ thuật chăm sóc, tạo dáng, chế tác... cho cây mà qua thú chơi đó, họ còn tạo nên những sức cuốn hút kỳ lạ, làm thổi bùng ngọn lửa đam mê và tình yêu Cổ Mai Hoa trong rất nhiều người.
Trong số những người đam mê cây mai cổ ở Đại Lộc phải kể đến một vài nhân vật có tên tuổi. Anh Lê Me (khu 5, Ái Nghĩa) là người đã từng đeo đuổi rất sớm cây hoa mai, từng khai phá hàng chục hécta đất núi đồi ở vùng giáp ranh Hải Vân để làm trang trại hoa mai, nhưng tiếc thay, do nhiều trắc trở, mộng không thành. Sau đó anh quyết chí làm lại, chuyển sang sưu tầm cây mai cổ.
Đến nay, sau quá trình gây dựng, trong vườn anh đã có đến gần 50 cây mai cổ được chăm sóc cẩn thận và thật sự là những tác phẩm có giá trị. Đó là chưa kể mấy trăm chậu mai mini để bàn, mai vừa để chơi và bán tết.
Anh Nguyễn Chín (Mỹ Liên, Đại Nghĩa) sau mấy năm tích cóp, sưu tầm hiện nay có trong “tay” đến gần trăm gốc; anh P.Thông (Đại Hiệp) khoảng 70 gốc.
Táo bạo hơn, anh Th. ở Trung An, chỉ sau vài tháng chuyển đổi từ các loại cây cảnh khác sang cây hoa mai, đã tích cóp cả cũ lẫn mới tổng cộng có đến gần trăm cây, mà cây nào cũng quý. Còn danh sách các “sở hữu chủ” ở cấp vài chục cây thì có đến vài mươi người ở khắp nơi trong huyện.
Tuy nhiên, sẽ rất thiếu sót nếu như không nói đến một số người kém may mắn hơn khi không giữ được cho mình một cây nào đáng giá, nhưng nỗi đam mê và cả “tay nghề” của họ thì không hề thua kém bất cứ một ai (ông Ph. ở Đại Nghĩa, anh B. ở khu 8; anh Q. ở Nghĩa Nam, Ái Nghĩa...).
Họ là những người yêu và theo đuổi nghệ thuật Cổ Mai Hoa từ rất sớm, đã từng “qua tay” họ đến vài trăm cây, nhưng khốn nỗi cái nghèo đã không giúp họ giữ lại được cho mình những tác phẩm quý giá, máu thịt đó.
Như vậy bằng một con tính đơn giản, ít nhất ở Đại Lộc hiện nay số cây mai cổ đang hiện diện là không dưới 500 cây, mà mỗi cây đều là một kỳ tích, thể hiện tất cả những niềm đam mê, tâm huyết mà chủ nhân của nó đã đổ mồ hôi, lắm khi cả nước mắt để có được nó.
Nói không ngoa, trừ những ngày bão lũ, bất cứ thời điểm nào cũng có một vài người Đại Lộc lặn lội khắp hang cùng ngõ hẻm, trên rừng, dưới xuôi, cả trong và ngoài tỉnh truy tìm cây hoa mai cổ thụ để rồi tạo nên một sự dịch chuyển âm thầm nhưng đầy ngoạn mục: Cây mai cổ từ khắp nơi dần dần được đưa về Đại Lộc, hợp thành cái nghĩa tương phùng Cổ - Mai - Hoa - Đại - Lộc!
Những lúc thóc cao gạo kém, nghệ nhân của Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc đã phải lăn lộn với rất nhiều nghề, không ngại bất cứ công việc gì, miễn là lương thiện để vừa có thể làm tròn nghĩa vụ ở đời, vừa có thể nuôi thú, chơi cây. Cay đắng hơn, còn có người chấp nhận và chịu đựng cả những nỗi oan khiên, điều tiếng để không phải từ giã thú chơi.
Tôi còn nhớ, cách đây không lâu, trong giới chơi cây ở Đại Lộc rỉ tai nhau một tin vào hàng rất “giật gân” là “ở một nơi nào đó mà không biết nơi nào (?) đang có một cây mai cổ rất lớn”. Theo lời đồn, cây mai này lớn đến nỗi cái bộng ở gốc cây được trẻ con... chui vào để chơi trò trốn tìm rồi ngủ quên trong đó, không ai tìm ra chúng (?).
Câu chuyện kỳ lạ, khó tin đó chỉ có thể làm mê hoặc được những kẻ chuyên truy tìm Cổ Mai Hoa, vì chỉ họ, những người vốn được cho là có “tâm thái bất thường” mới có thể tin nổi.
Không ai bảo ai, rất nhiều người bí mật đi tìm, như kiếm tìm một cơ may kiểu “ngậm ngải tìm trầm” vậy. Cũng như họ, lần đó, tôi cũng bí mật cùng vài anh em lên đường đi tìm cây mà thông tin có được chỉ vỏn vẹn là mỗi cái tên của ông chủ, không một dòng địa chỉ (đó là ông L.N.T.).
Đó là một người đàn ông khoảng ngoài 60, thần sắc hồng hào. Khi được xác nhận đúng tên ông, sau vài câu xã giao, chúng tôi hỏi: “Nghe người ta nói bác có cây mai cổ lớn lắm?”. Ông bình thản xác nhận là: “Ừ! có. Nhưng mà răng?”.
Quanh co một hồi, ông dẫn chúng tôi ra vườn, chỉ vào một khoảng trống, ông bảo: “Đây, nó đây!”. Nhưng chúng tôi chẳng thấy gì cả! Trong lúc chúng tôi còn ngơ ngác không hiểu gì thì ông gằn lại với bộ mặt rất bí hiểm: “Thì đây, chứ còn đâu nữa!”. Sau phút định thần chúng tôi thấy đó chỉ là... một hố đất rất sâu và đã cũ.
Thì ra, cây mai huyền thoại đó từng tồn tại nhưng nó đã chết từ lâu. Cái chết của cây mai gây nên cho ông một nỗi đau buồn vô tận, đến nỗi ông đã cho người ta đào cả gốc rễ đem đi mất để chóng nguôi ngoai. Nhưng rồi vẫn không yên, nỗi nhớ cây đã khiến ông cố tình giữ lại cái hố đất sâu do cây để lại làm kỷ niệm...
Theo lời ông, thời gian gần đây không biết lý do gì mà rất nhiều người lạ đến hỏi ông về cây mai cổ đó...
Và còn rất nhiều câu chuyện ly kỳ, bao hàm đủ cả hỉ - nộ - ái - ố, lắm khi đầy nước mắt về cây, về người mà trong giới Cổ Mai Hoa Đại Lộc gặp nhau có tán mãi cũng không bao giờ hết...
Nhiều cây mai rất quý được phát hiện và mang về Đại Lộc, khiến không ít người trong giới chơi cây phải ghen tị. Trong đó phải kể đến một vài cây có “số má” hẳn hoi cùng với những câu chuyện ly kỳ xung quanh nó.
Như cây mai có tên “Hồn Việt” của anh Th. mang về từ Điện Bàn (năm 2006), có tuổi hơn trăm năm, dáng thế thanh thoát, là một trong những cây mai quý đang có ở Đại Lộc, từng được báo chí đưa tin.
Cây “Ngọc cốt, Thiên chân” của anh Lê Me đem về từ Tam Dân, Phú Ninh (năm 2007), có kích thước to lớn chưa từng thấy, toát lên một cảm giác hùng vĩ đến rợn người.
Cây “Hoàng Mai” của anh Tr. (Đại Hiệp) có nguồn gốc từ Quế Sơn (năm 2008), xinh đẹp như tiên nữ giáng trần, hoành tráng như khổng lồ truyền thuyết.
Nghe đâu, để mua được nó thành công, chủ nhân đã phải cất công bí mật “trinh sát”, “mai phục”, rồi “đánh” (thuyết phục chủ cây đồng ý bán) và đã “thắng” như một chiến công thật sự, khiến cho tất cả anh em chơi mai ở Đại Lộc vừa sung sướng vừa ghen tị…
Quý nhau chút tình, những người có đồng sở đắc sưu tầm và chơi cây mai cổ ở Đại Lộc đã tìm đến nhau, gắn kết để cùng chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn và lòng đam mê mà nhiều khi nói ra người ngoài dễ cho là... bị bệnh hoang tưởng hay tâm thần phân liệt (!). Họ đã tự xây dựng cho mình những website riêng để chia sẻ thông tin cả với giới sinh vật cảnh trên khắp mọi miền đất nước (www.quangcaosanpham.com/members/comaihoadailoc, comaihoadailoc.Blogtiengviet.net).

| VỀ NƠI KHỞI NGUỒN PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ | |
| 16:04 04/06/2008 | |
| (Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế 1908)
Đầu thế kỷ 20, Phong trào Duy Tân được khởi xướng ở Quảng Nam đã lan ra toàn quốc. Đỉnh cao của phong trào Duy Tân là cuộc nổi dậy của nhân dân kháng sưu thuế năm 1908 ở Trung kỳ. Đây là cuộc nổi dậy rộng lớn và oanh liệt, nhằm mục đích đòi giảm sưu thuế, chống lại sự cai trị hà khắc của bọn thực dân phong kiến. Những ngày đầu tháng 3, chúng tôi đã về thôn Phiếm Ái xã Đại Nghĩa huyện Đại Lộc, nơi cách đây 100 năm, vào ngày 9-3-1908, nhân một bữa giỗ tộc, các ông Trương Hoành, Trương Tổn, Trương Côn, Lương Châu...đã vận động mọi người đưa yêu sách đòi giảm sưu cao thuế nặng. Người dân các xã lân cận biết chuyện cũng kéo đến hưởng ứng. Ông Trương Thời, 78 tuổi, cháu gọi ông Trương Hoành là ông nội chú kể lại : Trong nhiều yêu sách như chống sự sách nhiễu, tham ô...thì việc xin xâu, giảm thuế được đặt lên hàng đầu, nhằm huy động sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân và là lý do chính đáng để lấy chữ ký của các lý trưởng. Khi đã có đầu đủ “tư cách pháp nhân”, mọi người đã tập hợp nhau lại để kéo đến huyện đường “trình đơn cứu xét”. Đoàn biểu tình kéo đến huyện đường, rồi tỉnh đường La Qua đều không gặp được nhà “chức trách” do tất cả đã bỏ trốn xuống Toà Sứ (Hội An). Đoàn biểu tình vì thế mỗi lúc một thêm đông đảo có lúc lên đến gần 1 ngàn người. Đình làng Phiếm Ái cũng là một trong những địa điểm hội quân của đoàn biểu tình chống thuế, trên bia ghi công của đình đã ghi lại sự kiện này. Theo đó, ngày 11-3-1908, dân chúng biểu tình đã kéo tới tòa sứ ở Hội An. Phong trào đòi giảm sưu cao thuế nặng cũng được nhân dân ở các huỵện phủ Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ nhiệt tình hưởng ứng... Sức lớn mạnh của phong trào chống thuế ở Quảng Nam đã lan rộng ra nhiều tỉnh thành ở Trung Kỳ lúc bấy gìơ và kéo dài cho đến đầu tháng 4 năm 1908. Để giảm khí thế của các cuộc biểu tình, thực dân Pháp và phong kiến ban đầu chịu nhượng bộ một số yêu sách của nhân dân như hứa giảm sưu thuế, hứa trị tội quan lại tham nhũng. Nhưng khi phong trào đã lắng xuống, chúng lại giở trò khủng bố trắng. Trong gia phả tộc Trương cũng ghi lại: Các ông Trương Hoành,Trương Tổn, Hứa Tạo, Lương Châu đều bị bắt sau cuộc biểu tình và bị đi đày, sau này chỉ còn ông Trương Hoành sống sót trở về và tiếp tục tham gia các hoạt động kháng Pháp. “Theo bảng thống kê của tòa Khâm sứ Huế, sau các cuộc biểu tình tháng 3 và 4-1908, ở Trung kỳ có đến 216 người bị bắt và xử án. Cụ Phan Chu Trinh bị bắt ở Hà Nội ngày 31-3-1908, giải về kinh, giam ở Hộ Thành. Cụ bị đưa ra Hội đồng Vấn xứ có cả quan Tây, quan Nam, bị xử tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp buộc tội là “Thông đồng với người bội quốc (chỉ Phan Bội Châu), xướng thuyết “Dân Quyền” cùng các cuộc khai trương lập học”, bị đày ra Côn Đảo suốt 13 năm, cho đến năm 1921, mới được trả tự do. Riêng Trần Quý Cáp, tuy bị đày vào Khánh Hòa đầu tháng Giêng 1908, xem ra như ông không can dự vào việc “xin xâu”, nhưng thực dân Pháp vẫn xử tội tử hình. Cái chết của Trần Quý Cáp gây xúc động mạnh trong lòng dân chúng. Cùng với sự bắt bớ giam cầm, thực dân Pháp còn ra lệnh đóng cửa các cơ sở của “Phong trào Duy Tân”( Theo Việt Báo)
Đình làng Phiếm Ái nơi xu1ât phát biểu tình
Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế ở Quảng Nam, UBND huyện Đại Lộc đã thống nhất chủ trương chọn địa điểm trường mẫu giáo ở thôn Phiếm Ái xã Đại Nghĩa để xây dựng khu di tích lịch sử phong trào chống thuế trên diện tích 1.000m2, bao gồm các công trình tượng đài, phù điêu, minh bia, nhà truyền thống, khuôn viên cây xanh, tường rào cổng ngõ. Nơi đây cũng sẽ là địa điểm sinh hoạt văn hoá, giáo dục truyền thống của nhân dân địa phương.Dự kiến công trình sẽ khởi công nhân dịp ngành Văn hoá- thể thao và du lịch tổ chức Hội thảo 100 năm phong trào chống thuế ở Quảng Nam. Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế 1908 ở Quảng Nam là dịp để chúng ta hiểu thêm về nơi khởi nguồn của phong trào, hiểu thêm về sự kiện được xem là gây tiếng vang nhất đầu thế kỷ 20 và tự hào hơn về truyền thống đấu tranh của con người và vùng đất xứ Quảng. Quang Nguyễn Công nghiệp Đại Lộc trên đà phát triễn
Tìm 10 câu ca dao nói về địa phương mà bạn đang ở và trên quê hương Đại Lộc: 1. - Kể từ Quảng Huế xô ra, Khe Rô Quảng Đợi, Ô Gain, Trang Điền, Phú Bò lại đến phú Yên, Ngó lên khúc ngược, dạ phiền biết bao. Từ đây, ngó thẳng sông Đào, Ngó qua bến bãi Phường Chào, bồi lai. Hoài Mỹ, Mỹ Thuận không sai, Lâm Yên, Phước Lộc bãi dài thậm xa. Nhọc nhằn ta phải bon ba, Đến đó, huyền đà gần đây, Ngó qua Tân Mỹ, Xe Tây, Phụng Kinh, Vĩnh Phước lại qua cũng gần… 2. Con tằm Đại Lộc xe tơ Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông 3. Trầu nguồn ở tận sông Bung Chờ câu Đại Mỹ đặng cùng về xuôi. 4. Ai về chín xã sông con Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không? 5. Con về đất mẹ Hà Thanh Xanh xanh biển lúa mênh mông biển tình 6. Ngó lên đỉnh núi khe Lim Thác bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu. 7. Muốn cao thì phải gác chồ Muốn đẹp đã có thợ hồ Khánh Vân. 8. Loong boong Đại Lộc chè thơn An Bằng. 9. Cầu Chìm nổi tiếng đánh Tây Núi lở anh dũng phanh thây quân thù. 10. Dân ta như đá trên non Tay không chuyển ngọn gió lòng không xuê. 11. Ta về ta tắm ao ta Ôm cây cột cháy cũng là thơm danh. 13. Thà rằng uống nước hố bom Còn hơn Theo giặc lom khom sống quỳ.
1. Nguyễn Văn Bổng: (Trần Hiếu Minh, Lê Nguyên Trung), quê ở xã Đại Quang. 2. Võ Quảng (1920): qêu ở Thượng Phước xã Đại Hòa. 3. Nam Trân (Nguyễn Học Sỹ), quê quán thôn Mỹ An, Đâij Quang. 4. Lê Thị Liễu (Bà Bang Nhãn), quê quán thôn Lam Phụng, Đại Đồng. 5. Nguyễn Ngọc Anh, quê quán thôn Lam Phụng, Đại Đồng. 6. Trương Đình (Trinh Đường), quê quán thôn Xuân Nam, Đại Thắng. 7. Huỳnh Qùy (1828 – 1926), quê quán thôn Giáng Hòa, xã Đại Thắng. 8. Nguyễn Nho Túy, quê quán xã Đại Thạnh. Câu 3: Các xã, thị trấn trên điạ bàn huyện Đại Lộc: Huyện Đại Lộc có 18 xã, thị Trấn: Thị trấn Ái Nghĩa (Đại phước), Đại Nghĩa, Đại Hiệp, Đại Quang, Đại Đồng, Đại Hưng, Đại Lãnh, Đại Sơn, Đại Hồng, Đại Hòa, Đại An, Đại Cường, Đại Minh, Đại Thắng, Đại Phong, Đại Tân, Đại Chánh, Đại Thạnh. Trong đó có 09 xã miền núi là: Đại Đồng, Đại Quang,, Đại Hồng, Đại Hưng, Đại Lãnh, Đại Sơn, Đại Chánh, Đại Thạnh, Đại Tân. Câu 4: Vào những năm đầu thế kỷ XX, Đại Lộc là nơi xuất phát điểm một phong trào đấu tranh sôi nổi của cả 10 Tỉnh Trung Kỳ, bạn cho biết đó là phong trào gì? Vào thời gian nào? Xuất phát tại đâu? Kể tên những người lãnh đạo phong trào? - Đó là phong trào chống sưu cao thuế nặng vào ngày 13 tháng 3 năm 1908 tại làng Phiến Ái (Đại Nghĩa), - Do một số hào lý và học sinh như: Trương Tổn, Trương Côn, Trương Đính, Trương Hoành (Phiến Ái), Hứa Tạo (Ái Nghĩa), Lương Châu (Hà Tân) đứng ra lãnh đạo nhân dân.
|
|||||||||||||||||||
Tết Vùng Ba Đại Lộc
Ngày giáp tết, chúng tôi về vùng B Đại Lộc, miền quê nằm bên dòng Thu Bồn giàu huyền thoại, từng hứng chịu vô vàn bom đạn chiến tranh. Sau 30 năm, dấu tích xưa hầu như không còn. Tất cả đường làng đã bê tông hóa. Cứ 100 nhà có 1 điện thoại, trên 90% gia đình có TV, xe máy, GDP đầu người/ tháng/ 400.000đ… Cuộc sống thanh bình, thân thiện. Khi xuân về, bao gương mặt người tươi tắn dù vẫn còn những vất vả, lo toan.
Thôn Nhũ Bộ (Vú bò) trên đường đi Quảng Huế. Tết đến, người già, trẻ con vui náo nức. Cánh thanh niên xăng xái tổ chức hội làng và sau đó cùng thi hát… karaoke ở nhà trưởng thôn. Rất khác với bao ngôi làng khác, thanh niên nơi đây không đi làm ăn xa xứ mà tụ hội ở làng trồng rau sạch, la-ghim cung cấp cho các thương lái mang về thị trấn, thành phố. Không chỉ dùng cơ bắp mà họ đã biết dùng chất xám trong việc chọn giống, chăm cây. Đất ven sông Thu Bồn nuôi lớn bao người và con người nơi đây đã làm ra bao sản phẩm cho đời. Nào chuối, nào trầu, nào gừng, nào rau… cứ ánh lên trong cái nắng tàn đông. Bà con còn sơ chế nhiều loại bột, gạo 13/2 của Đại Lộc ngon nổi tiếng, không có nó bánh xèo, mì Quảng không ngon. Nhìn những lọn mì vàng phơi dưới nắng, dễ liên tưởng đến sắc tranh Đông Hồ, đến những gam màu phồn thực tô điểm đình chùa miếu mạo lúc xuân sang. Người dân vùng B thật khéo tay. Từ thân của những cây chè Tàu, họ uốn nên hài nên vóc của những con thú, vừa làm đẹp nhà vừa làm đẹp phố phường, tạo cảm giác vui mắt cho khách qua đường. Tiết xuân về cũng là mùa bà con ra gò bãi tỉa trồng đậu phụng, đậu đen, đậu xanh. Vùng B thật giàu hình ảnh! Trong Ô châu cận lục của Dương Văn An còn ghi lại tên làng Gia Cốc của Đại Minh. Cũng từ thuở ấy, người vùng B đã dùng nước mắm và mãi đến nay, sau nhiều thế kỷ, loại quốc túy này vẫn không thể thiếu. Đặc biệt, tết về bà con dùng mắm ngon Nam Ô 15.000đ/lít. Chúng được nhiều thương lái chở trên xe đạp, đưa về tận những xóm thôn. Tết, nhiều người Đại Lộc xa quê hối hả tìm về trên những chuyến xe đò Đại Lộc - Bến xe miền Đông. Ngược lại, cũng có người lại lên xe vào Sài Gòn ăn tết với bà con. Nhờ giao thông thuận tiện, nay người vùng B đã có thể ăn liền 2 cái tết: Quảng Nam và cả Sài Gòn!
Chùm ảnh dưới đây được phóng viên Thanh Niên ghi lại từ vùng B.
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tet-ve-vung-B-Dai-Loc-Quang-Nam/45113389/157/
Khái quát về tỉnh Quảng Nam
Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Quảng Nam nằm ở trung độ của Việt Nam (từ 14057’10’’ đến 16003’50’’ vĩ độ Bắc, 107012’40’’ đến 108044’20’’ kinh độ Đông) cách TP Hà Nội 860km về Phía Nam, cách TP Hồ Chí Minh 865km về phía Bắc.
- Phía Bắc giáp: Tỉnh Thừa thiên - Huế và Đà Nẵng
- Phía Nam giáp: tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Tây giáp: CHDCND Lào và tỉnh Kon Tum
- Phía Đông giáp: biển Đông
Quảng Nam có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế, là trung tâm của khu vực Đông Nam á, với bán kính 3216 km bao phủ Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan về phía Bắc; Singapore, Malaisia về phía Nam; Philippine, Bone-Brunei về phía Đông; Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia về phía Tây.
- Diện tích: 10.406,83 km2 .
- Khí Hậu: Nhiệt đới gió mùa .
- Nhiệt độ trung bình: 25,40c.
- Lượng mưa trung bình năm: 2.580mm.
Dân số
Tính đến tháng 7 năm 2002, dân số tỉnh Quảng Nam là 1.427.177 người.
Đơn vị hành chính
Gồm 17 đơn vị (15 huyện và 02 thị xã)
- 8 huyện miền núi: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nam Trà My và Bắc Trà My.
- 7 huyện đồng bằng: Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn, Phú Ninh và Núi Thành.
- 2 Thị xã : Tam Kỳ , Hội An
- Tỉnh lỵ: Thị xã Tam Kỳ.
Tiềm năng kinh tế xã hội
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên : 1.040.514 ha, Trong đó đất chưa sử dụng: 388.958 ha ( Chiếm 37,38% diện tích tự nhiên)
- Tài nguyên nước: Hệ thống sông ngòi tự nhiên khoảng 900km được phân bố khá đều ở các huyện, thị xã. Gồm 2 hệ thống sông chính là Sông Thu Bồn và Sông Tam Kỳ, đổ ra biển Đông theo 2 cửa sông lớn là Cửa Đại (Hội An) và Cửa An Hòa (Núi Thành)
Mạng lưới sông ở Quảng Nam hầu hết bắt nguồn từ các vùng núi phía Tây đổ ra biển với cự ly ngắn, độ dốc cao. Mực nước các sông đạt mức cao nhất vào các tháng : 9,10,11 và thấp nhất vào các tháng 5&6 trong năm.
Nhiều hồ lớn như hồ Phú Ninh, hồ Khe Tân, hồ Việt An, hồ Thạch Bàn, hồ Phú Lộc, hồ Vĩnh Trinh, hồ Phước Hà, hồ Cao Ngạn...
- Tài nguyên biển và ven biển: Bờ biển dài 125km, ven biển có nhiều bãi tắm nổi tiếng : Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành).
Ngư trường rộng khoảng 40.000km2
Sản lượng khai thác hải sản: 25.000 - 30.000 tấn / năm
- Tài nguyên khoáng sản: Than đá, vàng, titan, graphite, thiếc, cao lanh, đá vôi, đá Granite, đá hoa, mica, cát...
- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng 512.800 ha, sản lượng khai thác hàng năm từ 60.000 - 80.000 m3 gỗ.
- Lao động: 718.794 người( Chiếm 52,6% dân số)
Trong đó số lao động phục vụ khách sạn- Nhà hàng: 10.500 người.
Cơ sở hạ tầng
- Bưu chính viễn thông: Mạng lưới viễn thông được bố trí ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh, có thể nối mạng liên lạc với các nước trên thế giới.
- Điện: Nguồn điện sử dụng trên địa bàn tỉnh phần lớn từ nguồn điện lưới 500kv của quốc gia. Một số vùng nông thôn sử dụng nguồn điện từ các trạm thủy điện nhỏ.
- Giao Thông:
- Đường bộ: hiện nay có các tuyến đường quốc lộ đi qua địa phận Quảng Nam là: đường Hồ Chí Minh, 1A, 14B, 14D, 14E với chiều dài 591km. Đường tỉnh lộ gồm 13 tuyến với tổng chiều dài: 442km.
- Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua Quảng Nam có chiều dài 95km, qua 4 ga (Trà Kiệu, Phước Chỉ, Tam Kỳ, Chu Lai) là đầu mối giao thông xuyên suốt từ Bắc đến Nam.
- Đường biển: có cảng Kỳ Hà là một cảng nước sâu, tàu có trọng tải 1 vạn tấn có thể cập cảng này; Từ đây có thể đến các nước trong khu vực và là trạm dừng chân của các tuyến đường hàng hải quốc tế.
- Đường sông: có khoảng 500km đường sông có khả năng vận chuyển hàng hóa, hành khách phục vụ du lịch.
- Đường hàng không: có sân bay Chu Lai do Mỹ xây dựng từ trước năm 1975. Đây là sân bay có vị trí quan trọng trong quốc phòng cũng như phát triển kinh tế.
- Y tế - Giáo dục:
Mạng lưới y tế : có 2 bệnh viện cấp tỉnh, 23 phòng khám đa khoa, 13 bệnh viện cấp huyện, 206 trạm y tế xã, phường.
Mạng lưới trường học: có 177 trường mẫu giáo, 381 trường tiểu học và phổ thông cơ sở, 30 trường phổ thông trung học, 5 trường trung học và cao đẳng chuyên nghiệp và nhiều Trung tâm giáo dục khác.
QUẢNG NAM VỚI MỘT SỐ MÔ HÌNH VĂN HÓA Ở ĐỊA PHƯƠNG
Đinh Hài
Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa-lịch sử. Trải qua hơn 500 năm hình thành và phát triển, từ chỗ đóng vai trò vùng đất phên giậu, bàn đạp mở cõi về phương Nam, đã từng bước vươn lên, khẳng định mình. Nếu trong chế độ phong kiến, Quảng Nam nổi lên như một vùng đất năng động, sáng tạo, mở cửa, hội nhập quốc tế tương đối sớm với thương cảng Hội An hoặc một vùng đất được vinh danh “Ngũ phụng tề phi” với 05 sỹ tử đỗ đầu trong khoa thi năm Mậu Tuất (1898), thì trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Quảng Nam được tặng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu để đời: “Quảng Nam trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” do Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam phong tặng. Truyền thống vẻ vang đó như một nguồn lực thúc đẩy địa phương phát triển nhanh và bền vững trong hòa bình, xây dựng từ sau ngày quê hương được giải phóng đến nay. Đặc biêt, trong 12 năm tái lập (1997-2009), với cơ sở vật chất ban đầu gần như không đáng kể, công nghiệp không phát triển, nông nghiệp lạc hậu... nhưng với đội ngũ cán bộ công chức nhiệt tình, tâm huyết, nhân dân cần cù, chịu khó, đã đưa Quảng Nam thoát khỏi tình trạng vùng đất giàu tiềm năng nhưng nghèo vào loại nhất nước.
Bài học nào cần rút ra từ thực tiễn sinh động ấy, kinh nghiệm gì cần chắt lọc để nhân rộng như một điển hình? ở đây, tôi xin nhấn mạnh đến một nguồn lực vô cùng quan trọng thúc đẩy sự phát triển tại Quảng Nam - Đó là VĂN HÓA. Chính văn hóa Quảng Nam và cán bộ từ lãnh đạo đến nhân viên, từ người dân bình thường đến hàng ngũ trí thức đều đề cao văn hóa, xem văn hóa là động lực thật sự để phát triển địa phương. Do đó, ở Quảng Nam luôn chú trọng việc xây dựng các mô hình văn hóa. Cụ thể:
1. Xuất bản sách viết về Quảng Nam - Một mô hình văn hóa phi vật thể quan trọng
Chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm), được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, ngành văn hóa thông tin (nay là ngành VHTT&DL) đã tổ chức nghiên cứu và phối hợp với các ngành liên quan tổ chức nghiên cứu nhiều đề tài khoa học, tổ chức hội thảo và phối hợp với các Vụ, Viện của Bộ, ngành liên quan tổ chức thành công các hội thảo khoa học, phối hợp với các ngành tổ chức khảo cổ nhiều di chỉ có giá trị... đã phát lộ hình ảnh của một Quảng Nam có bề dày văn hóa sử vào loại đa dạng và độc đáo nhất khu vực Trung trung bộ. Những kết quả nghiên cứu, những tham luận được tập hợp và xuất bản hàng trăm đầu sách, phát hành rộng rãi đã giúp cho nhiều người có điều kiện hiểu biết về Quảng Nam một cách đầy đủ và có cơ sở khoa học. Đặt biệt các cấp lãnh đạo ở Quảng Nam nắm rõ về văn hóa của vùng đất mà mình đang được xã hội phân công quản lý, để từ đó đề ra những quyết sách hợp lý nhất trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; ngành giáo dục đã sử dụng các kết quả nghiên cứu trên để viết các chương trình văn hóa sử địa phương phục vụ công tác giảng dạy trong các trường học.
2. Liên doanh với các công ty trong việc phát triển và phát huy hiệu quả các cơ sở hoạt động văn hóa công cộng
Trong tình hình hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư cho ngành văn hóa còn khá khiêm tốn, nhiều cơ sở hoạt động văn hóa công cộng xuống cấp nghiêm trọng. Nhất là các rạp chiếu phim được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ XX đã không còn phát huy hiệu quả. Sở VHTT&DL Quảng Nam đã mạnh dạn đề xuất với UBND tỉnh cho phép được liên doanh với các công ty nhằm đầu tư và khai thác các rạp chiếu
bóng ở thành phố Hội An và thành phố Tam Kỳ. Mô hình này đã tỏ ra hiệu quả: Rạp Hòa Bình cũ nát ở Tam Kỳ đã được Công ty cổ phần Văn hóa Du lịch Gia Lai đầu tư 16 tỷ đồng để nâng cấp, tạo nên một cơ sở khang trang với một rạp chiếu phim chất lượng cao, gồm 140 ghế được trang bị hiện đại và một siêu thị sách tổng hợp, phục vụ nhu cầu sách báo, băng đĩa, cùng một số văn hóa phẩm cho công chúng.
Riêng rạp chiếu phim Hội An, ngành đã lập đề án liên doanh với Công ty cổ phần truyền thông điện ảnh Sài Gòn và Tổng Công ty Cổ phần Tư vấn Giáo dục Viễn Đông đầu tư 60 tỷ đồng để xây dựng một rạp đa năng gồm nhiều hạng mục: Rạp chiếu phim hiện đại, sân khấu múa rối; sân khấu biểu diễn ca nhạc và các loại hình sân khấu cổ truyền như Tuồng, Dân ca kịch, Cải lương..., đồng thời tổ chức các buổi biểu diễn giao lưu các loại hình sân khấu dân tộc các nước ASEAN.
Mô hình này đang phát huy hiệu quả và phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển văn hóa trong tình mới.
3. Phát động xây dựng và tiến hành kiểm tra công nhận tộc, họ văn hóa
Song song với việc xây dựng làng văn hóa, xã văn hóa, Quảng Nam đang đẩy mạnh phong trào xây dựng tộc, họ văn hóa. Đến nay toàn tỉnh có 337 tộc đăng ký và đã kiểm tra công nhận được 173 tộc.
Lúc mới phát động phong trào này, chúng tôi rất lo tình trạng cát cứ, bao che giữa các tộc, họ với nhau trong những vấn đề tế nhị của làng quê Việt Nam, nhưng qua thời gian, hiệu quả của phong trào này thật bất ngờ. Nhiều tộc, họ đã xây dựng được quỹ khuyến học, khuyến tài, giúp đỡ học sinh nghèo, khuyến khích học sinh giỏi; lập quỹ tương tế, góp vốn phát triển kinh tế; giáo dục con cháu sống có mục đích tránh được những thói hư, tật xấu... góp phần đảm bảo an sinh xã hội của địa phương.
Thực tế ở Quảng Nam, mô hình tộc, họ văn hóa không còn là mô hình thí điểm mà đã được triển khai rộng khắp. Đặc biệt ở miền núi, phong trào này đã khơi dậy và phát huy vai trò các già làng, trưởng bản trong xóa đói, giảm nghèo, giữ vững an nimh, trật tự của địa phương.
Thấy rõ lợi ích của phong trào, nhiều địa phương như các huyện: Điện Bàn, Phú Ninh, Đại Lộc... đã tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm nhân rộng mô hình trên địa bàn.
4. Thành phố văn hóa Hội An - Một mô hình tiêu biểu về văn hóa đô thị
Được sự quan tâm của Bộ VHTT (nay là Bộ VHTT&DL) và sự chỉ đạo sâu sắc của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An) đã triển khai Đề án xây dựng thị xã văn hóa đầu tiên trong cả nước vào năm 2000. Năm 2005, thị xã được BộVHTT tặng bằng khen về việc đảm bảo các tiêu chí của một đô thị văn hóa. Hiện nay Hội An đang thi đua nước rút hoàn thành các chỉ tiêu ở giai đoạn II (2006-2010) của một thành phố văn hóa.
Qua gần 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng thành phố văn hóa, Hội An đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Đó là một thành phố mà theo đánh giá của du khách là thành phố văn minh, thân thiện. ở đó an sinh xã hội được coi trọng; không có người ăn xin, không có tệ nạn xã hội; một thành phố phát triển hết sức năng động mà vẫn giữ được nhịp sống hài hòa, không có cảnh xô bồ, chen chúc của các đô thị nói chung.
Yếu tố văn hóa gốc được giữ gìn và phát huy. Người dân Hội An tự hào về nếp sống văn hóa của mình. Sự đồng thuận giữa nhân dân và các nhà quản lý càng rõ hơn khi đô thị ở đây không có sự vi phạm từ phía người dân như lấn chiếm vỉa hè, sinh hoạt, buôn bán không theo quy hoạch... Đặc biệt, một thành phố du lịch như Hội An lại không tồn tại các tệ nạn xã hội. Du khách đủ các tầng lớp, hạng người, Tây có, ta có, bạn bè các nước trong khu vực có, nhưng Hội An vẫn giữ được “nếp nhà”. Đến đây, với sự thân thiện của người dân, du khách có cảm giác như đang ở quê hương mình, mặt khác như là một sự trải nghiệm mang tính bản địa hóa! Tất cả như hội nhập vào nếp sống Hội An. Hiệu quả từ mô hình thành phố văn hóa không còn là điều bàn c•i, nhưng liệu có ai nghĩ rằng Hội An là thành phố Di sản văn hóa thế giới, nên việc triển khai xây dựng thành phố văn hóa có những thuận lợi nhất định! Nhưng sự thật không phải phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố đó, mà quan trọng nhất vẫn là sự đồng lòng, chung sức của cán bộ và nhân dân Hội An trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Ngay từ đầu, thành phố đã quán triệt không để có tệ nạn xã hội, dù chỉ là manh nha, quyết tâm triệt phá thói hư, tật xấu khi chúng vừa có dấu hiệu xuất hiện. Chính sự kiên quyết xây dựng nếp sống văn hóa của người Hội An đã làm nên diện mạo của thành phố Hội An điển hình như ngày nay. Và phải chăng mô hình thành phố văn hóa cũng có thể nhân rộng?
5. Thiết chế văn hóa làng gắn kết với đời sống văn hóa tâm linh người Việt - một mô hình phát huy được hiệu quả kết cấu cộng đồng dân cư
Năm 1997, ngay sau khi tái lập tỉnh, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có chỉ thị về việc xây dựng thôn bản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Năm 2000, chính phủ đã tổ chức Lễ phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại Quảng Nam. Đây là sự kiện văn hóa quan trọng, thúc đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ ở Quảng Nam. Đặc biệt, các thiết chế văn hóa làng cũng được xây dựng khang trang. Nhiều nhà sinh hoạt văn hóa làng được đầu tư hàng trăm triệu đồng, cá biệt có làng đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng cụm văn hóa làng như ở làng Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc (Quảng Nam).
Điều đáng nói ở đây là hầu hết các thiết chế văn hóa văn hóa làng đều thiết kế gắn kết giữa sinh hoạt văn hóa thông thường với đời sống văn hóa tâm linh, gồm các hạng mục: phòng hội họp kiêm chỗ đánh cờ, phòng đọc sách báo, nhà trẻ, mẫu giáo, sân chơi thể thao và các nhà bia, lư hương thờ thành hoàng làng, thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sỹ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng của làng. Chính nhờ sự kết hợp này mà khu sinh hoạt văn hóa làng luôn luôn có người lui tới, vì nó gắn kết tâm hồn Việt, phát huy giá trị văn hóa Việt và quan trọng hơn cả là nó gần gũi, gắn bó máu thịt với đơì sống dân làng. Không giống như một số nơi chỉ đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa làng không hơn một nhà họp của làng, để rồi sau hồi kẻng bãi họp tất cả trở nên hoang vắng như Chùa Bà Đanh. Mô hình thiết chế văn hóa làng kết hợp với văn hóa tâm linh đang là mô hình phát huy hiệu quả và đang được nhân rộng tại các huyện Đại Lộc, Điện Bàn và một số nơi trong tỉnh Quảng Nam.
Trên đây là một số mô hình văn hóa ở Quảng Nam. Trong điều kiện hiện nay, các mô hình này vẫn còn phát huy tính tích cực trong việc phát triển văn hóa nói riêng và đời sống kinh tế xã hội nói chung của địa phương. Tôi xin trân trọng báo cáo như là một sự đóng góp mang tính giao lưu, trao đổi nghiệp vụ vào nội dung Hội nghị toàn ngành năm 2009./.
Lễ hội "Quảng Nam - Hành trình di sản" lần thứ IV: Chương trình phong phú, nhiều nét mới
09:54 08/05/2009
Từ ngày 3 đến 7-6-2009 Lễ hội “Quảng Nam - Hành trình di sản” lần thứ IV sẽ được tổ chức tại nhiều địa phương trong tỉnh. Đây là dịp giao lưu văn hóa, trao đổi kinh nghiệm trong việc tổ chức và nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa thế giới. Đồng thời cũng là cơ hội quảng bá, liên kết các tuyến du lịch miền Trung trên con đường di sản; là hoạt động thiết thực kỷ niệm 10 năm UNESCO công nhận đô thị cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn là Di sản Văn hóa thế giới (1999-2009).
So với các kỳ lễ hội trước, năm nay các hoạt động lễ hội ngoài việc tập trung ở 3 điểm chính là Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên thì một số địa phương khác cũng có các hoạt động hưởng ứng nhằm tạo ra sự đa dạng.
Như mọi năm Hội An vẫn là nơi tập trung nhiều nhất với 16 hoạt động diễn ra tại các địa điểm như: Quảng trường Sông Hoài, Vườn tượng An Hội, Khu phố cổ với các nội dung như triển lãm tranh về Hội An của các nghệ sĩ nổi tiếng trong nước, triển lãm các tác phẩm ảnh nghệ thuật về Hội An đã đạt giải thưởng, hội chợ ẩm thực, liên hoan làng nghề Việt và đặc biệt là lễ hội dù Hội An lần thứ II được tổ chức tại khu phố cổ....
Điện Bàn tham gia 9 hoạt động tại địa điểm chính là khu trung tâm hành chính huyện và 5 điểm kết nối như Khu du lịch Le bel HaMy, bãi biển Hà My (Điện Dương), làng đúc đồng Phước kiều, (Điện Phương), sông Thu Bồn đoạn qua cầu Câu Lâu và sân vận động Điện Minh. Các hoạt động bao gồm: khai mạc vòng II Giải bóng chuyền bãi biển toàn quốc tại bãi biển Hà My (5-6), chương trình Gala Dân ca - Dân nhạc - Dân vũ 3 miền Bắc, Trung, Nam; khai mạc giải bóng đá thanh niên; chương trình hát tuồng Nguyễn Hiểu Dĩnh; hô hát bài chòi và hội diễn văn nghệ, trưng bày các gian hàng làng nghề truyền thống của Điện Bàn với sự tham gia của các địa phương như Bắc Trà My, Nam Giang cùng nhiều mặt hàng của cụm công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc. Đặc biệt là đón đoàn 300 xe cổ từ TP. Hồ Chí Minh diễu hành từ Hội An lên tham dự lễ đua thuyền truyền thống của Quảng Nam trên dòng Thu Bồn đoạn qua cầu Câu Lâu và trở về dự lễ hội ẩm thực tại trung tâm hành chính huyện.
Tại Duy Xuyên, đêm 4-6 sẽ diễn ra lễ khai mạc trong khu đền tháp Mỹ Sơn. Nội dung chương trình gồm 5 phần; phần mở đầu và nghi lễ với nội dung chính “Quảng Nam quê hương tôi” giới thiệu tổng quát mảnh đất, con người Quảng Nam cùng quá trình hình thành, phát triển vùng đất này. Phần II Quảng Nam - Một điểm đến hai di sản với các nội dung như “Tiếng vọng Mỹ Sơn”, “Đánh thức Mỹ Sơn”, tái hiện Mỹ Sơn huyền ảo với các thần Siva, vũ nữ Apsara huyền ảo trong tiếng trống Ginăng, pararưng, kèn saranai. Trong phần này có “Về phố xưa” tái hiện Hội An từ quá khứ đến hiện tại. Phần III với “Hương sắc xứ Quảng” là quá trình mở đất của các lưu dân khi xưa đến định cư trên vùng đất mới, cùng quá trình lao động đã hình thành các làng nghề truyền thống nổi tiếng như gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, đúc đồng Phước Kiều, dệt chiếu Bàn Thạch... và đặc biệt là các làng dệt ven sông Thu cùng những cuộc tình lãng mạn đã đi vào lịch sử, thi ca. Các hoạt cảnh được lồng ghép trong tiếng nhạc của ca khúc “Dáng lụa quê nhà” của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển. Cùng với đó là hoạt cảnh tái hiện Lệ Bà Thu Bồn với 6 kiệu rước Ngũ hành tiên nương. Kết thúc phần này là vũ khúc “Nhịp điệu Tây Giang” của đoàn cồng chiêng Cơtu huyện Tây Giang và tiết mục “Mời rượu Hồng Đào”. Phần IV sẽ mang chủ đề “Nghĩa tình bè bạn” với con người Quảng Nam hiếu khách biết kế thừa, chọn lọc và phát huy những giá trị văn hóa để làm giàu cho văn hóa xứ Quảng. Đặc biệt trong phần này sẽ có sự xuất hiện của các hoa hậu thế giới và đại sứ một số nước. Phần kết thúc với chủ đề “Quê hương tôi” và “Việt Nam gấm hoa” ca ngợi mảnh đất và con người Quảng Nam đậm nghĩa tình.
Huyền ảo Mỹ Sơn.
Toàn bộ chương trinh khai mạc sẽ diễn ra trong khoảng thời gian 90 phút với sự tham dự của hơn 250 diễn viên chuyên và không chuyên cùng sự tham dự của đoàn nghệ thuật tỉnh Bình Thuận, nhóm múa ABC cùng các ca sĩ Vân Khánh, Quang Linh... Lễ khai mạc năm nay có sự khác biệt so với những kỳ trước là Khu đền tháp sẽ là sân khấu mở tự nhiên, các hoạt cảnh sẽ được tái hiện trên khung nền các đền tháp nhằm tạo sự lung linh kỳ ảo cho du khách. Ngoài chương trình khai mạc trên, huyện Duy xuyên cũng tổ chức nhiều hoạt động khác như Giao lưu văn hóa ẩm thực Watphou (Lào) - Mỹ Sơn (Việt) Ninh Thuận (Chăm), khởi công xây dựng tượng đài kiến trúc sư Kazic - người có công lớn với Mỹ Sơn tại xã Duy Phú; khai trương bảo tàng điêu khắc Champa tại Duy Sơn và khai trương làng nghề Trà Nhiêu tại xã Duy Vinh. Tại các huyện, thành phố còn lại cũng có nhiều hoạt động hưởng ứng lễ hội như khai mạc chương trình Gala “Dân ca - Dân nhạc - Dân vũ 3 miền Bắc Trung Nam ” do Cục Văn hóa cơ sở phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND các huyện Đại Lộc, Quế Sơn, Phú Ninh và Tam Kỳ tổ chức lễ bế mạc sẽ diễn ra tại Hội An với chủ đề “Khát vọng Thu Bồn” giới thiệu đến du khách về khát vọng vươn lên của một vùng đất với bề dày văn hóa lịch sử trong thời đại mới.
Lễ hội Quảng Nam - Hành trình di sản diễn ra trong tình hình suy thoái kinh tế là cơ hội quảng bá vùng đất và con người Quảng Nam với các sản phẩm du lịch độc đáo từ du lịch làng nghề đến du lịch biển đảo, du lịch thể thao nhằm góp phần kích cầu du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Với những nét mới về hoạt động, cách tổ chức, xã hội hóa... hy vọng lễ hội năm nay sẽ tạo nên sự chuyển biến tích cực trong việc thu hút du khách đến với 2 di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn nói riêng và Quảng Nam nói chung.
Theo Báo Quảng Nam Online
Khái quát về tỉnh Quảng Nam
Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Quảng Nam nằm ở trung độ của Việt Nam (từ 14057’10’’ đến 16003’50’’ vĩ độ Bắc, 107012’40’’ đến 108044’20’’ kinh độ Đông) cách TP Hà Nội 860km về Phía Nam, cách TP Hồ Chí Minh 865km về phía Bắc.
- Phía Bắc giáp: Tỉnh Thừa thiên - Huế và Đà Nẵng
- Phía Nam giáp: tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Tây giáp: CHDCND Lào và tỉnh Kon Tum
- Phía Đông giáp: biển Đông
Quảng Nam có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế, là trung tâm của khu vực Đông Nam á, với bán kính 3216 km bao phủ Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan về phía Bắc; Singapore, Malaisia về phía Nam; Philippine, Bone-Brunei về phía Đông; Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia về phía Tây.
- Diện tích: 10.406,83 km2 .
- Khí Hậu: Nhiệt đới gió mùa .
- Nhiệt độ trung bình: 25,40c.
- Lượng mưa trung bình năm: 2.580mm.
Dân số
Tính đến tháng 7 năm 2002, dân số tỉnh Quảng Nam là 1.427.177 người.
Đơn vị hành chính
Gồm 17 đơn vị (15 huyện và 02 thị xã)
- 8 huyện miền núi: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nam Trà My và Bắc Trà My.
- 7 huyện đồng bằng: Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn, Phú Ninh và Núi Thành.
- 2 Thị xã : Tam Kỳ , Hội An
- Tỉnh lỵ: Thị xã Tam Kỳ.
Tiềm năng kinh tế xã hội
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên : 1.040.514 ha, Trong đó đất chưa sử dụng: 388.958 ha ( Chiếm 37,38% diện tích tự nhiên)
- Tài nguyên nước: Hệ thống sông ngòi tự nhiên khoảng 900km được phân bố khá đều ở các huyện, thị xã. Gồm 2 hệ thống sông chính là Sông Thu Bồn và Sông Tam Kỳ, đổ ra biển Đông theo 2 cửa sông lớn là Cửa Đại (Hội An) và Cửa An Hòa (Núi Thành)
Mạng lưới sông ở Quảng Nam hầu hết bắt nguồn từ các vùng núi phía Tây đổ ra biển với cự ly ngắn, độ dốc cao. Mực nước các sông đạt mức cao nhất vào các tháng : 9,10,11 và thấp nhất vào các tháng 5&6 trong năm.
Nhiều hồ lớn như hồ Phú Ninh, hồ Khe Tân, hồ Việt An, hồ Thạch Bàn, hồ Phú Lộc, hồ Vĩnh Trinh, hồ Phước Hà, hồ Cao Ngạn...
- Tài nguyên biển và ven biển: Bờ biển dài 125km, ven biển có nhiều bãi tắm nổi tiếng : Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành).
Ngư trường rộng khoảng 40.000km2
Sản lượng khai thác hải sản: 25.000 - 30.000 tấn / năm
- Tài nguyên khoáng sản: Than đá, vàng, titan, graphite, thiếc, cao lanh, đá vôi, đá Granite, đá hoa, mica, cát...
- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng 512.800 ha, sản lượng khai thác hàng năm từ 60.000 - 80.000 m3 gỗ.
- Lao động: 718.794 người( Chiếm 52,6% dân số)
Trong đó số lao động phục vụ khách sạn- Nhà hàng: 10.500 người.
Cơ sở hạ tầng
- Bưu chính viễn thông: Mạng lưới viễn thông được bố trí ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh, có thể nối mạng liên lạc với các nước trên thế giới.
- Điện: Nguồn điện sử dụng trên địa bàn tỉnh phần lớn từ nguồn điện lưới 500kv của quốc gia. Một số vùng nông thôn sử dụng nguồn điện từ các trạm thủy điện nhỏ.
- Giao Thông:
- Đường bộ: hiện nay có các tuyến đường quốc lộ đi qua địa phận Quảng Nam là: đường Hồ Chí Minh, 1A, 14B, 14D, 14E với chiều dài 591km. Đường tỉnh lộ gồm 13 tuyến với tổng chiều dài: 442km.
- Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua Quảng Nam có chiều dài 95km, qua 4 ga (Trà Kiệu, Phước Chỉ, Tam Kỳ, Chu Lai) là đầu mối giao thông xuyên suốt từ Bắc đến Nam.
- Đường biển: có cảng Kỳ Hà là một cảng nước sâu, tàu có trọng tải 1 vạn tấn có thể cập cảng này; Từ đây có thể đến các nước trong khu vực và là trạm dừng chân của các tuyến đường hàng hải quốc tế.
- Đường sông: có khoảng 500km đường sông có khả năng vận chuyển hàng hóa, hành khách phục vụ du lịch.
- Đường hàng không: có sân bay Chu Lai do Mỹ xây dựng từ trước năm 1975. Đây là sân bay có vị trí quan trọng trong quốc phòng cũng như phát triển kinh tế.
- Y tế - Giáo dục:
Mạng lưới y tế : có 2 bệnh viện cấp tỉnh, 23 phòng khám đa khoa, 13 bệnh viện cấp huyện, 206 trạm y tế xã, phường.
Mạng lưới trường học: có 177 trường mẫu giáo, 381 trường tiểu học và phổ thông cơ sở, 30 trường phổ thông trung học, 5 trường trung học và cao đẳng chuyên nghiệp và nhiều Trung tâm giáo dục khác.
QUẢNG NAM VỚI MỘT SỐ MÔ HÌNH VĂN HÓA Ở ĐỊA PHƯƠNG
Đinh Hài
Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa-lịch sử. Trải qua hơn 500 năm hình thành và phát triển, từ chỗ đóng vai trò vùng đất phên giậu, bàn đạp mở cõi về phương Nam, đã từng bước vươn lên, khẳng định mình. Nếu trong chế độ phong kiến, Quảng Nam nổi lên như một vùng đất năng động, sáng tạo, mở cửa, hội nhập quốc tế tương đối sớm với thương cảng Hội An hoặc một vùng đất được vinh danh “Ngũ phụng tề phi” với 05 sỹ tử đỗ đầu trong khoa thi năm Mậu Tuất (1898), thì trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Quảng Nam được tặng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu để đời: “Quảng Nam trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” do Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam phong tặng. Truyền thống vẻ vang đó như một nguồn lực thúc đẩy địa phương phát triển nhanh và bền vững trong hòa bình, xây dựng từ sau ngày quê hương được giải phóng đến nay. Đặc biêt, trong 12 năm tái lập (1997-2009), với cơ sở vật chất ban đầu gần như không đáng kể, công nghiệp không phát triển, nông nghiệp lạc hậu... nhưng với đội ngũ cán bộ công chức nhiệt tình, tâm huyết, nhân dân cần cù, chịu khó, đã đưa Quảng Nam thoát khỏi tình trạng vùng đất giàu tiềm năng nhưng nghèo vào loại nhất nước.
Bài học nào cần rút ra từ thực tiễn sinh động ấy, kinh nghiệm gì cần chắt lọc để nhân rộng như một điển hình? ở đây, tôi xin nhấn mạnh đến một nguồn lực vô cùng quan trọng thúc đẩy sự phát triển tại Quảng Nam - Đó là VĂN HóA. Chính văn hóa Quảng Nam và cán bộ từ lãnh đạo đến nhân viên, từ người dân bình thường đến hàng ngũ trí thức đều đề cao văn hóa, xem văn hóa là động lực thật sự để phát triển địa phương. Do đó, ở Quảng Nam luôn chú trọng việc xây dựng các mô hình văn hóa. Cụ thể:
1. Xuất bản sách viết về Quảng Nam - Một mô hình văn hóa phi vật thể quan trọng
Chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm), được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, ngành văn hóa thông tin (nay là ngành VHTT&DL) đã tổ chức nghiên cứu và phối hợp với các ngành liên quan tổ chức nghiên cứu nhiều đề tài khoa học, tổ chức hội thảo và phối hợp với các Vụ, Viện của Bộ, ngành liên quan tổ chức thành công các hội thảo khoa học, phối hợp với các ngành tổ chức khảo cổ nhiều di chỉ có giá trị... đã phát lộ hình ảnh của một Quảng Nam có bề dày văn hóa sử vào loại đa dạng và độc đáo nhất khu vực Trung trung bộ. Những kết quả nghiên cứu, những tham luận được tập hợp và xuất bản hàng trăm đầu sách, phát hành rộng rãi đã giúp cho nhiều người có điều kiện hiểu biết về Quảng Nam một cách đầy đủ và có cơ sở khoa học. Đặt biệt các cấp lãnh đạo ở Quảng Nam nắm rõ về văn hóa của vùng đất mà mình đang được xã hội phân công quản lý, để từ đó đề ra những quyết sách hợp lý nhất trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh; ngành giáo dục đã sử dụng các kết quả nghiên cứu trên để viết các chương trình văn hóa sử địa phương phục vụ công tác giảng dạy trong các trường học.
2. Liên doanh với các công ty trong việc phát triển và phát huy hiệu quả các cơ sở hoạt động văn hóa công cộng
Trong tình hình hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư cho ngành văn hóa còn khá khiêm tốn, nhiều cơ sở hoạt động văn hóa công cộng xuống cấp nghiêm trọng. Nhất là các rạp chiếu phim được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ XX đã không còn phát huy hiệu quả. Sở VHTT&DL Quảng Nam đã mạnh dạn đề xuất với UBND tỉnh cho phép được liên doanh với các công ty nhằm đầu tư và khai thác các rạp chiếu
bóng ở thành phố Hội An và thành phố Tam Kỳ. Mô hình này đã tỏ ra hiệu quả: Rạp Hòa Bình cũ nát ở Tam Kỳ đã được Công ty cổ phần Văn hóa Du lịch Gia Lai đầu tư 16 tỷ đồng để nâng cấp, tạo nên một cơ sở khang trang với một rạp chiếu phim chất lượng cao, gồm 140 ghế được trang bị hiện đại và một siêu thị sách tổng hợp, phục vụ nhu cầu sách báo, băng đĩa, cùng một số văn hóa phẩm cho công chúng.
Riêng rạp chiếu phim Hội An, ngành đã lập đề án liên doanh với Công ty cổ phần truyền thông điện ảnh Sài Gòn và Tổng Công ty Cổ phần Tư vấn Giáo dục Viễn Đông đầu tư 60 tỷ đồng để xây dựng một rạp đa năng gồm nhiều hạng mục: Rạp chiếu phim hiện đại, sân khấu múa rối; sân khấu biểu diễn ca nhạc và các loại hình sân khấu cổ truyền như Tuồng, Dân ca kịch, Cải lương..., đồng thời tổ chức các buổi biểu diễn giao lưu các loại hình sân khấu dân tộc các nước ASEAN.
Mô hình này đang phát huy hiệu quả và phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển văn hóa trong tình mới.
3. Phát động xây dựng và tiến hành kiểm tra công nhận tộc, họ văn hóa
Song song với việc xây dựng làng văn hóa, xã văn hóa, Quảng Nam đang đẩy mạnh phong trào xây dựng tộc, họ văn hóa. Đến nay toàn tỉnh có 337 tộc đăng ký và đã kiểm tra công nhận được 173 tộc.
Lúc mới phát động phong trào này, chúng tôi rất lo tình trạng cát cứ, bao che giữa các tộc, họ với nhau trong những vấn đề tế nhị của làng quê Việt Nam, nhưng qua thời gian, hiệu quả của phong trào này thật bất ngờ. Nhiều tộc, họ đã xây dựng được quỹ khuyến học, khuyến tài, giúp đỡ học sinh nghèo, khuyến khích học sinh giỏi; lập quỹ tương tế, góp vốn phát triển kinh tế; giáo dục con cháu sống có mục đích tránh được những thói hư, tật xấu... góp phần đảm bảo an sinh xã hội của địa phương.
Thực tế ở Quảng Nam, mô hình tộc, họ văn hóa không còn là mô hình thí điểm mà đã được triển khai rộng khắp. Đặc biệt ở miền núi, phong trào này đã khơi dậy và phát huy vai trò các già làng, trưởng bản trong xóa đói, giảm nghèo, giữ vững an nimh, trật tự của địa phương.
Thấy rõ lợi ích của phong trào, nhiều địa phương như các huyện: Điện Bàn, Phú Ninh, Đại Lộc... đã tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm nhân rộng mô hình trên địa bàn.
4. Thành phố văn hóa Hội An - Một mô hình tiêu biểu về văn hóa đô thị
Được sự quan tâm của Bộ VHTT (nay là Bộ VHTT&DL) và sự chỉ đạo sâu sắc của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An) đã triển khai Đề án xây dựng thị xã văn hóa đầu tiên trong cả nước vào năm 2000. Năm 2005, thị xã được BộVHTT tặng bằng khen về việc đảm bảo các tiêu chí của một đô thị văn hóa. Hiện nay Hội An đang thi đua nước rút hoàn thành các chỉ tiêu ở giai đoạn II (2006-2010) của một thành phố văn hóa.
Qua gần 10 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng thành phố văn hóa, Hội An đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Đó là một thành phố mà theo đánh giá của du khách là thành phố văn minh, thân thiện. ở đó an sinh xã hội được coi trọng; không có người ăn xin, không có tệ nạn xã hội; một thành phố phát triển hết sức năng động mà vẫn giữ được nhịp sống hài hòa, không có cảnh xô bồ, chen chúc của các đô thị nói chung.
Yếu tố văn hóa gốc được giữ gìn và phát huy. Người dân Hội An tự hào về nếp sống văn hóa của mình. Sự đồng thuận giữa nhân dân và các nhà quản lý càng rõ hơn khi đô thị ở đây không có sự vi phạm từ phía người dân như lấn chiếm vỉa hè, sinh hoạt, buôn bán không theo quy hoạch... Đặc biệt, một thành phố du lịch như Hội An lại không tồn tại các tệ nạn xã hội. Du khách đủ các tầng lớp, hạng người, Tây có, ta có, bạn bè các nước trong khu vực có, nhưng Hội An vẫn giữ được “nếp nhà”. Đến đây, với sự thân thiện của người dân, du khách có cảm giác như đang ở quê hương mình, mặt khác như là một sự trải nghiệm mang tính bản địa hóa! Tất cả như hội nhập vào nếp sống Hội An. Hiệu quả từ mô hình thành phố văn hóa không còn là điều bàn c•i, nhưng liệu có ai nghĩ rằng Hội An là thành phố Di sản văn hóa thế giới, nên việc triển khai xây dựng thành phố văn hóa có những thuận lợi nhất định! Nhưng sự thật không phải phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố đó, mà quan trọng nhất vẫn là sự đồng lòng, chung sức của cán bộ và nhân dân Hội An trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Ngay từ đầu, thành phố đã quán triệt không để có tệ nạn xã hội, dù chỉ là manh nha, quyết tâm triệt phá thói hư, tật xấu khi chúng vừa có dấu hiệu xuất hiện. Chính sự kiên quyết xây dựng nếp sống văn hóa của người Hội An đã làm nên diện mạo của thành phố Hội An điển hình như ngày nay. Và phải chăng mô hình thành phố văn hóa cũng có thể nhân rộng ?
5. Thiết chế văn hóa làng gắn kết với đời sống văn hóa tâm linh người Việt - một mô hình phát huy được hiệu quả kết cấu cộng đồng dân cư
Năm 1997, ngay sau khi tái lập tỉnh, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có chỉ thị về việc xây dựng thôn bản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Năm 2000, chính phủ đã tổ chức Lễ phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại Quảng Nam. Đây là sự kiện văn hóa quan trọng, thúc đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ ở Quảng Nam. Đặc biệt, các thiết chế văn hóa làng cũng được xây dựng khang trang. Nhiều nhà sinh hoạt văn hóa làng được đầu tư hàng trăm triệu đồng, cá biệt có làng đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng cụm văn hóa làng như ở làng Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc (Quảng Nam).
Điều đáng nói ở đây là hầu hết các thiết chế văn hóa văn hóa làng đều thiết kế gắn kết giữa sinh hoạt văn hóa thông thường với đời sống văn hóa tâm linh, gồm các hạng mục: phòng hội họp kiêm chỗ đánh cờ, phòng đọc sách báo, nhà trẻ, mẫu giáo, sân chơi thể thao và các nhà bia, lư hương thờ thành hoàng làng, thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền, các anh hùng liệt sỹ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng của làng. Chính nhờ sự kết hợp này mà khu sinh hoạt văn hóa làng luôn luôn có người lui tới, vì nó gắn kết tâm hồn Việt, phát huy giá trị văn hóa Việt và quan trọng hơn cả là nó gần gũi, gắn bó máu thịt với đơì sống dân làng. Không giống như một số nơi chỉ đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa làng không hơn một nhà họp của làng, để rồi sau hồi kẻng bãi họp tất cả trở nên hoang vắng như Chùa Bà Đanh. Mô hình thiết chế văn hóa làng kết hợp với văn hóa tâm linh đang là mô hình phát huy hiệu quả và đang được nhân rộng tại các huyện Đại Lộc, Điện Bàn và một số nơi trong tỉnh Quảng Nam.
Trên đây là một số mô hình văn hóa ở Quảng Nam. Trong điều kiện hiện nay, các mô hình này vẫn còn phát huy tính tích cực trong việc phát triển văn hóa nói riêng và đời sống kinh tế xã hội nói chung của địa phương. Tôi xin trân trọng báo cáo như là một sự đóng góp mang tính giao lưu, trao đổi nghiệp vụ vào nội dung Hội nghị toàn ngành năm 2009./.
Kỷ niệm 100 năm Phong Trào chống thuế (1808 -2008):
PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ Ở QUẢNG NAM
Trần Viết Ngạc
Chỉ bốn năm sau khi Duy Tân hội thành lập, ba năm sau bài thơ Chí thành thông thánh và bài phú Lương ngọc danh sơn mà nhiều người nhận định là tuyên ngôn của sĩ phu đầu thế kỷ XX và hai năm sau Đầu Pháp chính phủ thư (hay thư gửi Toàn quyền Bcau) của Phan Hy Mã, một phong trào nông dân kháng thuế đã lần lượt nổ ra khắp 10 tỉnh Trung kỳ từ Thanh Hóa vào đến Phú Yên vào năm 1908 mà Quảng Nam vinh dự lãnh vai trò tiên khởi.
1) Tại sao Quảng Nam?
Tại sao phong trào chống thuế phát khởi đầu tiên ở Quảng Nam? câu hỏi này thật ra không khó trả lời.
Nhìn lại nửa sau thế kỷ XIX, Quảng Nam đã ngăn chận được bước tiến của thực dân Pháp khi chúng muốn đánh chiếm Đà Nẵng để làm đầu cầu uy hiếp kinh đô Huế trong chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh (1858 - 1859). Sau đó, trong phong trào Cần Vương phát triển khắp cả nước thì Nghĩa hội Quảng Nam tuy chỉ tồn tại trong 3 năm (1885 - 1887) nhưng đã có những thành tựu đáng kể. Đó là tỉnh duy nhất trong toàn quốc đã thiết lập được một chính quyền cấp tỉnh với tỉnh thành mới là Tân tỉnh Trung Lộc. Nghĩa hội có lúc đã làm chủ được toàn tỉnh, bao vây và cô lập La Qua, Đà Nẵng và các thị trấn, huyện lỵ, khiến cho ngụy quyền nhiều lần cấp báo về Huế cầu cứu (1886). Sự hy sinh sau đó của Phan Bá Phiến và Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu đã giúp cho Quảng Nam bảo toàn được một phần lớn nhân sự, dành sinh lực cho một cơ hội quật khởi về sau như Nguyễn Duy Hiệu mong mỏi.
Đầu thế kỷ XX, trong khi ở miền Bắc Hoàng Hoa Thám còn tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu, một cuộc chiến đấu không còn có triển vọng phát triển; ở Thanh Nghệ Tĩnh, thời gian chỉ mới mấy năm sau cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chưa đủ để lực lượng yêu nước có thể hồi phục… thì Nam Ngãi đã có gần mười lăm năm để hồi phục và tiềm dưỡng sinh lực. Hơn thế nữa, tinh thần thời Nghĩa hội trong tầng lớp nông dân mà một số vốn là nghĩa quân đã trở về cầm lấy cày cuốc sau khi Nguyễn Duy Hiệu hy sinh vẫn còn được nuôi dưỡng. Một số nhân vật quan trọng của Nghĩa hội vẫn còn đó. Tiểu La Nguyễn Thành đã từng được kẻ thù đánh giá là người biết dụng binh, âm thầm cày ruộng, giáu chí nhưng vẫn không ngừng chuẩn bị phương lược, tụ họp bí mật ở "sơn trang" Nam Thạnh lực lượng nhân sự cho một ngày quật khởi. Còn đó Đỗ Đăng Tuyển ở Ô Da, Đại Lộc, tán lương quân vụ Nghĩa hội, mới ngoài ba mươi mà đầu tóc bạc trắng, lại giả vờ lúy túy khiến cho kẻ thù gọi là "lão túy ông", nhưng vẫn âm thầm liên lạc với Tiểu La và những đồng chí cũ cùng với các cựu nghĩa binh dưới quyền trước đây. Còn đó Châu Thượng Văn ở Hội An, người đã từng hiến một phần lớn gia sản để giúp Nghĩa hội… và cũng sẵn sàng đóng góp phần còn lại cho đại cuộc khi cần.
Chính trong điều kiện nhân sự và tinh thần quần chúng như thế mà Quảng Nam nghiễm nhiên trở thành bản doanh của cả hai xu hướng cách mạng đầu thế kỷ và là nơi có đủ điều kiện nhất để phát động một phong trào phản kháng bất bạo động suốt 10 tỉnh Trung Kỳ.
2) Tại sao Đại Lộc?
Cho đến nay, chúng ta có nhiều nguồn tư liệu để tiếp cận phong trào chống thuế 1908 và tùy theo phương thức tiếp cận, nhiều nhận định rất khác nhau về phong trào quần chúng lớn nhất trong lịch sử cận đại nước ta.
Trước hết là những tác phẩm của những sĩ phu đã từng bị kết án vì phong trào đó như:
- Mậu Thân dân biến ký, Trung kỳ cự Sưu ký của Huỳnh Thúc Kháng
- Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký của Phan Châu Trinh.
Thứ đến là tài liệu của triều đình Huế và của thực dân Pháp:
- Châu bản Triều Duy Tân về phong trào chống thuế
- Tài liệu lưu trữ của chính quyền Pháp về phong trào chống Huế (Trung tâm lưu trữ tài liệu hải ngoại ở Aix-en-Provence (AOM) của Pháp) Jean Ajalbert trong cuốn Những số phận ở Đông Dương (Les destinées de l'Indochine) đã cho rằng phong trào này là một cuộc diễn tập.
"Cuộc khởi loạn được tổ chức một cách thông thạo nhất - như là một sự thao diễn, một cuộc diễn tập, qua đó xứ Annam tổng ước các năng lực của nó, kiểm nghiệm các lực lượng phiến loạn của nó".
Một số tác giả khác thì cho rằng phong trào sôi nổi và rộng lớn này chỉ là một cuộc nổi dậy tự phát của nông dân.
Thực ra, nếu chúng ta theo dõi thật kỹ các bước phát triển của phong trào, so sánh các nguồn từ tư liệu và chịu khó phân tích những gì Huỳnh Thúc Kháng muốn thông tin cho chúng ta qua Trung kỳ cự sưu ký, chúng ta ít nhất cũng phải thừa nhận rằng đó là một phong trào mà những trình tự tiếp diễn đã được hoạch định trước một cách khôn khéo.
Việc chọn Đại Lộc làm nơi xuất phát là một ví dụ.
Đại Lộc là một huyện, ở tây bắc tỉnh Quảng Nam, không xa tỉnh thành La Qua và thành phố Đà Nẵng, nhưng lại nằm ngoài trục giao thông Nam-Bắc. Đại Lộc tiếp giáp với miền thượng du, cứ địa của đồng bào các dân tộc miền núi.
Vốn là một vùng quan trọng của Phong trào Cần Vương mà tiềm năng về nhân lực chưa bị tiêu diệt, được những người lãnh đạo có năng lực như Đỗ Đăng Tuyển gầy dựng và nuôi dưỡng lực lượng yêu nước nên Đại Lộc sớm trở thành một địa bàn cách mạng của tỉnh Quảng Nam, đầu thế kỷ XX.
Thực vậy, tầng lớp hào ly, vốn là chỗ dựa của guồng máy cai trị của thực dân và phong kiến, vậy mà ở Đại Lộc, họ trở thành đại diện cho nông dân ký vào các đơn chống thuế gửi lên huyện, tỉnh và công sứ! Nó chứng tỏ khí thế của phong trào quần chúng ở đây lên rất cao, trấn áp và lôi kéo tầng lớp hào lý đứng về phía nông dân.
Theo những gì Huỳnh Thúc Kháng mô tả và gián tiếp thông tin, chúng ta có thể vẽ lại kế hoạch phát triển của phong trào chống thuế từ khởi điểm Đại Lộc.
- Lý trưởng và "học trò", thành phần lãnh đạo trực tiếp đã họp ở nhà họ Trương, làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc nhân một bữa giỗ, làm đơn và bàn nhau lấy chữ ký của 108 lý trưởng của huyện Đại Lộc.
- Tập hợp dân kéo lên huyện để yêu cầu quan huyện cùng dân lên tỉnh thành - La Qua, Điện Bàn - và từ tỉnh Thành sẽ trực chỉ tòa sứ ở Hội An.
- Khi dân các huyện khác cùng đến vây tòa sứ ở Hội An lên đến cao điểm thì dân ở huyện, phủ nào sẽ vây huyện lỵ, phủ lỵ huyện ấy, lấy khẩu hiệu yêu cầu quan huyện, phủ cùng dân đi xin xâu.
- Phong trào sẽ từ Quảng Nam lan ra phía bắc và tỏa dần về phía nam. Phong trào ở mỗi tỉnh sẽ do nhân sự ở tỉnh ấy phụ trách
- Lãnh đạo của phong trào sẽ không công khai xuất hiện. Nếu cần chỉ có những người cầm đầu ở làng, tổng xuất hiện khi cần thiết mà thôi.
- Phải giữ phong trào trong vòng hợp pháp và bất bạo động để địch không có cớ đàn áp bằng súng đạn.
- Không gây phương hại đến tính mạng và tài sản các quan phủ, huyện, tỉnh. Mục đích của phong trào là làm tê liệt guồng máy Nam triều từ cấp xã đến cấp huyện, cấp tỉnh.
3) Diễn tiến.
Vào một ngày đầu tháng hai Mậu Thân (1908), một số hào lý huyện Đại Lộc và tầng lớp trí thức nông thôn (Mính Viên gọi là học trò) đã họp nhau trong một bữa giỗ. Họ thảo đơn, dự định "lấy chữ ký các làng xã trong huyện, tới trình viên tri huyện chuyển đạt lên tỉnh cùng tòa sứ, xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế, chớ như hiện thời thì nặng quá dân không thể đóng nổi" (Trung Kỳ cự sưu ký). Rõ ràng công việc và các bước tiến hành theo trình tự từ xã đến huyện, tỉnh và cuối cùng là tòa sứ đã được vạch ra khá cụ thể.
Đơn đã thảo và viết xong. Đã lấy chữ ký một cách thật mau chóng - 35 lý trưởng các làng. Việc tên lý trưởng làng La Đái dao động, lén (1) đi báo huyện sẽ là một cái cớ để những người lãnh đạo thúc đẩy tiến trình nhanh hơn. Không đợi lấy đủ 108 chữ ký của các làng, ngày 11/3 năm 1908, hơn 400 dân Đại Lộc đã kéo nhau đến huyện lỵ với lá đơn xin giảm sưu thuế và với yêu cầu "Nhờ quan đến xin giúp"(2).
Quan đã bỏ chạy xuống tỉnh cấp báo (Tri huyện Phạm Văn Lãng). Vậy là dân ùn ùn kéo xuống tỉnh với khẩu hiệu xin sưu! Đến chợ Vĩnh Điện, đoàn biểu tình đã lên đến năm, sáu trăm người. Đến tỉnh cũng chỉ là một chặng dừng chân. Khi biết quan huyện đã đến tòa sứ, nhân dân Đại Lộc lại kéo nhau xuống tòa sứ Hội An, như đã dự kiến trong buổi họp! Trên đường từ Điện Bàn đến Hội An, nhân số đoàn biểu tình đã đông lên vì nhiều người đã gia nhập. Đến tòa sứ, đoàn biểu tình đã lên con số ngàn. Và ngay chiều hôm đó, những "học trò" đã từng tham gia buổi họp đầu tiên nay lại là đại diện của đoàn biểu tình là Lương Châu, Trương hoành, Hứa Tạo, Trương Tốn, Trương Côn, Trương Đính đã bị bắt. Đoàn biểu tình vây tòa sứ dù cho viên công sứ đã tiếp đại diện, nhận đơn và trả lời rất hợp lý là việc giảm sưu thuế phải do quyết định của Triều đình Huế và Toàn quyền Đông Dương. Phải vây tòa sứ vì đó là trung tâm cai trị cấp tỉnh của thực dân Pháp cho dù viên công sứ đe dọa và thực hiện lời đe dọa ngay chiều hôm đó là đày Lương Châu, Trương Hoành, Hứa Tạo đi Lao Bảo. Việc vây tòa sứ là "tiếng súng phát hiệu lệnh" cho dân các phủ huyện. Họ tiến thẳng về tòa sứ để tiếp ứng và khi số lượng đã quá đông trên một diện tích không đủ rộng là tòa công sứ ở Hội An, thì số dân còn lại ở các địa phương sẽ vây các phủ lỵ, huyện lỵ khắp toàn tỉnh.
Trình độ tổ chức và khả năng kiểm soát phong trào, duy trì phong trào trong đường lối bất bạo động và ôn hòa đã được thể hiện rất rõ trong quá trình diễn tiến.
Làm thế nào để duy trì cuộc biểu tình vây tòa sứ Hội An với một nhân số đông đảo có lúc lên đến một vạn người, trong thời gian hơn một tháng? (Giả định cuộc biểu tình là tự phát, ta sẽ thấy câu trả lời là bất cập).
Huỳnh Thúc Kháng viết:
"Nhân dân các phủ huyện trong tỉnh khoai mo, cơm gói, quần xách, áo mang kéo đi từng đoàn ra phố thay nhau kẻ ở người về, cơm tiền giúp nhau". Tự phát (!) mà hiệu quả đến như thế thì hơn hẳn có tổ chức nếu không nói là đã được tổ chức rất chặt chẽ!
Và đến khi ở tòa sứ nhân số đã quá đủ và quá đông thì Huỳnh Thúc Kháng ghi lại lời bàn tán (chứ không phải là thảo luận hay mệnh lệnh). "Ở phố, tòa đã đông lắm, nay ở phủ huyện nào vây quanh phủ huyện ấy không phải kéo ra phố nữa". Và thật là kỳ lạ, lời bàn tán vô danh đó đã có hiệu lực như một mệnh lệnh được chuyển đi rất nhanh chóng và dân các phủ Điện Bàn, Tam Kỳ, Thăng Bình, các huyện Hòa Vang…đã kéo đến vây các phủ, huyện với yêu cầu rất ôn hòa "xin quan phủ huyện cùng dân đi xin xâu".
Trong quá trình "dân biến" ở Quảng Nam chỉ có hai tên bị thiệt mạng, đó là Đề đốc Trần Tuệ (có tư liệu ghi là Sự) ở Tam kỳ và tên Chánh Sáu làng Gia Cốc, mà chỉ riêng trường hợp thứ hai là do dân bạo động.
Trần Tuệ là đề đốc coi việc xây đắp đường sá "Thường đánh đập dân, nhất là ghét dân cúp tóc đã hành hạ dân, áp bức dân cho nên khi phong trào nổi lên, Đề Tuệ lén (chữ của Huỳnh Thúc Kháng) về ở trong phủ Tam Kỳ. Dân cả bảy tổng vây phủ "một hai xin viên phủ và ông Đề đem dân đi xin xâu". Đề Tuệ đã sợ quá mà chết. Khi viên đại lý Pháp ở Phủ Tam Kỳ đem Đề Tuệ ra khỏi phủ thì bị Trùm Thuyết (Trần Thuyết) kêu to "Dân ta xin quan đại lý giao ông Đề cho dân ăn gan". Toàn thể đám đông vây phủ đồng thanh lớn tiếng dạ vang lừng. Đề Tuệ ngồi trên xe, hộc máu, gục xuống, về đến tòa đại lý thì tắt thở.
Tên thứ hai là Chánh Sáu (hay Quát) bị dân oán vì dựng nhà giam để dọa bắt nhốt dân đi xin sưu. Ban đêm dân vây nhà, Sáu trốn ra ngoài bụi bờ, dân đốt đuốc đi tìm. Tìm thấy, dân dùng đuốc đốt râu tóc rồi dìm xuống sông. Điều đáng cho chúng ta lưu ý ở đây là Đề Tuệ và Chánh Sáu chỉ là những tên ác ôn không phải là hàng quan phủ, huyện hay tỉnh mà phong trào chỉ nhằm mục đích hạ uy thế, làm mất uy tín trước dân và trước thực dân Pháp, làm cho guồng máy cai trị trở nên vô hiệu.
Chúng ta có thể dẫn thêm nhiều ví dụ để minh chứng cho trình độ giác ngộ của dân chúng Quảng Nam lúc bấy giờ và cả khả năng tổ chức cũng như kiểm soát được phong trào.
Tiếng "Dạ" vang lừng của dân bảy tổng Tam Kỳ không chỉ làm cho Đề Tuệ sợ mà làm rúng động cả guồng máy thống trị, làm cho viên khâm sứ Trung Kỳ và cả viên toàn quyền Đông Dương cũng run sợ. Hào lý nay đứng về phía nhân dân, guồng máy cai trị cấp phủ, huyện bị vô hiệu hóa hoàn toàn…đang đe dọa guồng máy thống trị trung gian của chúng.
Và từ Quảng Nam, phong trào chống Huế đã nổ ra ở Thừa Thiên, Quảng Trị… cho đến Thanh Hóa ở phía Bắc và phát triển ở Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ở Nam. Đặc biệt ở Bình Định, phong trào đã diễn ra mạnh mẽ và làm chủ hoàn toàn ở các phủ huyện khiến các quan cai trị phải rút về ở tỉnh.
Quảng Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phát khởi và làm gương cho phong trào ở các tỉnh như được khen ngợi trong một tờ truyền đơn chống thuế ở Nghệ Tĩnh:
" Đáng yêu thay dân Quảng Nam!
Đáng kính thay dân Quảng Nam!
Đáng học thay dân Quảng Nam!
Lòng họ chuyên nhất như thế,
Chí họ kiên quyết nhẫn nại đến thế,
Hành động họ sáng tỏ là thế…"
Vụ chống thuế đã khiến bọn thực dân lo sợ và ra tay đàn áp, đày ải các sĩ phu yêu nước - dù chúng không có lấy một bằng cớ cụ thể rằng họ đứng sau cuộc biểu tình vĩ đại đó - đi Lao Bảo, Côn Lôn như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La Nguyễn Thành, Châu Thượng Văn… và chém giết thẳng tay các vị lãnh đạo trực tiếp phong trào như Trần Thuyết, ông Ích Đường…












